Quy hoạch vùng chè từ nhu cầu thị trường
Trồng giống chè nào, ở đâu, để chế biến sản phẩm gì và bán cho ai? Khi thị trường chè ngày càng phân hóa, từ chè đặc sản truyền thống đến matcha, đồ uống, dược liệu và các sản phẩm chế biến sâu, những câu hỏi đó đang trở thành căn cứ để các hợp tác xã (HTX) tổ chức lại vùng nguyên liệu. Quy hoạch vùng chè vì thế không chỉ là câu chuyện về diện tích, mà phải bắt đầu từ sản phẩm và nhu cầu thị trường.

HTX chè Nguyên Long (xã Tân Cương) đang mở rộng vùng nguyên liệu, trồng mới gần 3ha.
Trồng chè theo phân khúc khách hàng
Giữa vùng chè Tân Cương, những nương chè của HTX chè Nguyên Long không chỉ có một giống. Bên cạnh LDP1, HTX vẫn dành diện tích cho giống chè Trung du - giống chè truyền thống gắn với lịch sử hình thành vùng chè đặc sản Tân Cương. Lựa chọn này không đơn thuần nhằm lưu giữ một giống chè cũ, mà xuất phát từ chính nhu cầu của khách hàng.
Bà Nguyễn Thị Điệp, Giám đốc HTX chè Nguyên Long, cho biết HTX hiện có 12 thành viên, khoảng 10ha chè đang khai thác và dự kiến trồng mới thêm 3ha. HTX đã có sản phẩm OCOP 4 sao và đang hướng mạnh vào phân khúc chè chất lượng cao, đồng thời chuyển đổi vùng nguyên liệu theo hướng hữu cơ.
Trong định hướng đó, chè trung du có vị trí riêng. Theo bà Điệp, một bộ phận khách hàng, nhất là những người có kinh nghiệm thưởng trà, vẫn tìm đến các sản phẩm chế biến từ chè Trung du bởi hương vị đặc trưng. Vì vậy, bên cạnh những giống mới có ưu thế về năng suất, HTX xác định cần duy trì, phát triển vùng chè Trung du để tạo dòng sản phẩm khác biệt.
Trên cùng một vùng nguyên liệu, câu chuyện về giống chè đang được nhìn theo một cách khác: không phải giống nào năng suất cao hơn thì nhất thiết mở rộng giống đó, mà quan trọng là giống chè phù hợp với dòng sản phẩm và nhóm khách hàng nào.
Đây cũng là một trong những định hướng được đặt ra trong Nghị quyết số 11-NQ/TU về phát triển ngành chè Thái Nguyên giai đoạn 2025-2030. Tỉnh định hướng đến năm 2030, giống chè năng suất, chất lượng cao chiếm 85-90% diện tích, đồng thời duy trì chè Trung du ở mức 10-15%.
Trồng chè phải tính đến sản phẩm cuối cùng
Câu chuyện quy hoạch vùng nguyên liệu có thể nhìn thấy ngay từ những vườn ươm. Tại một cơ sở sản xuất cây giống ở xã Đồng Hỷ, những luống chè giống được ươm nối tiếp nhau để chuẩn bị cung cấp cho người trồng. Mỗi năm, cơ sở sản xuất khoảng 1,2 triệu cây giống.
LDP1, Long Vân, VN15, Phú Thọ 10… là những giống hiện được người dân lựa chọn khá nhiều. Tuy nhiên, nhu cầu cây giống giữa các vùng không hoàn toàn giống nhau. Nếu trước đây việc thay giống thường được nhìn nhiều ở góc độ nâng năng suất, thì nay một yêu cầu khác ngày càng rõ hơn: giống phải đi cùng mục đích chế biến và thị trường tiêu thụ.

Vườn ươm giống chè ở xã Đồng Hỷ mỗi năm cung cấp khoảng 1,2 triệu cây giống cho người trồng chè.
Theo Nghị quyết 11-NQ/TU, khi xây dựng vùng chè, tỉnh xác định rà soát hiện trạng đất đai, lợi thế của từng địa phương để quy hoạch các vùng sản xuất theo tiêu chuẩn GAP, hữu cơ, tạo vùng nguyên liệu chất lượng cho chế biến; đồng thời số hóa vùng sản xuất để quản lý và áp dụng đồng bộ quy trình.
Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu khoảng 70% diện tích chè được chứng nhận GAP hoặc hữu cơ, 70% được cấp mã số vùng trồng và 100% doanh nghiệp, HTX có vùng nguyên liệu ứng dụng công nghệ số trong quản lý chuỗi, truy xuất nguồn gốc.
Như vậy, quy hoạch không dừng ở việc khoanh vùng trên bản đồ, mà hướng đến hình thành những vùng nguyên liệu có giống phù hợp, tiêu chuẩn cụ thể và địa chỉ tiêu thụ rõ ràng.
Thay vì trồng chè rồi mới tìm thị trường, cần xác định trước vùng nguyên liệu sẽ cung cấp cho thị trường nào, nhà máy nào, chế biến sản phẩm gì; từ đó mới lựa chọn giống và xây dựng quy trình canh tác tương ứng.
Đây cũng là hướng mà các nhà khoa học đang nghiên cứu, chuyển giao. Với từng nhu cầu như nguyên liệu matcha, chè nội tiêu hay sản phẩm dược liệu, yêu cầu về giống và quy trình sản xuất có thể khác nhau.
Khi HTX, doanh nghiệp xác định rõ hướng sản phẩm, nhà khoa học có cơ sở lựa chọn, chuyển giao giống và quy trình phù hợp.
Cách làm này đặc biệt có ý nghĩa khi sản phẩm chè Thái Nguyên hiện vẫn tập trung nhiều vào chè xanh truyền thống. Nghị quyết 11 đã chỉ ra hạn chế về tính đa dạng của sản phẩm và đặt ra yêu cầu phát triển chế biến sâu, tạo thêm các sản phẩm từ chè dùng làm thực phẩm, đồ uống, dược phẩm, mỹ phẩm, phục vụ nhiều nhóm khách hàng trong nước và xuất khẩu. Điều đó cũng đồng nghĩa vùng nguyên liệu phải thay đổi để đáp ứng yêu cầu mới của chế biến.
Để mỗi vùng chè có một giá trị riêng
Thái Nguyên hiện có trên 22,2 nghìn ha chè. Nghị quyết 11 xác định đến năm 2030 phát triển khoảng 24.500ha, sản lượng chè búp tươi trên 300 nghìn tấn và tổng giá trị sản phẩm thu được từ cây chè khoảng 25 nghìn tỷ đồng.
Nhưng phía sau những mục tiêu về diện tích và sản lượng là một yêu cầu quan trọng hơn: chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu.

Nông dân Tân Cương thu hái chè.
Với những vùng chè đặc sản như Tân Cương, lợi thế có thể nằm ở giống chè truyền thống, kỹ thuật chế biến và những sản phẩm cao cấp gắn với văn hóa thưởng trà. Những vùng khác có thể phát triển giống năng suất, chất lượng cao, hình thành vùng nguyên liệu GAP, hữu cơ hoặc cung cấp nguyên liệu ổn định cho các cơ sở chế biến sâu.
Tỉnh cũng định hướng ưu tiên thu hút các nhà máy chế biến tại vùng sản xuất tập trung, phát triển sản phẩm từ chè phục vụ thực phẩm, đồ uống, dược phẩm, mỹ phẩm; đồng thời tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, HTX với các hộ trồng chè.
Trong chuỗi liên kết ấy, HTX là cầu nối quan trọng. Khi hàng chục hộ sản xuất riêng lẻ được tập hợp vào một vùng nguyên liệu, cùng giống, cùng quy trình và cùng tiêu chuẩn chất lượng, doanh nghiệp mới có thể đặt hàng nguyên liệu ổn định; nhà khoa học thuận lợi chuyển giao kỹ thuật; việc cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc cũng khả thi hơn.
Trở lại với HTX chè Nguyên Long, việc tiếp tục trồng chè Trung du bên cạnh những giống chè mới cho thấy giá trị có thể được tạo ra từ chính sự khác biệt của từng vùng, từng giống và từng dòng sản phẩm.
Quy hoạch vùng chè vì thế cần đi từ thị trường trở về nương chè: thị trường cần sản phẩm gì, chế biến cần nguyên liệu như thế nào, từ đó mới xác định vùng trồng, giống và quy trình sản xuất.
Khi mỗi vùng nguyên liệu có một hướng đi và địa chỉ đầu ra rõ ràng, mục tiêu không chỉ là có thêm những nương chè, mà còn nâng giá trị của từng búp chè Thái Nguyên.


