• :
  • :

Từ mã số vùng trồng đến thị trường xuất khẩu

A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Trong điều kiện thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và chất lượng, mã số vùng trồng (MSVT) là điều kiện quan trọng để nông sản tỉnh mở rộng cơ hội tham gia thị trường xuất khẩu. Từ xây dựng vùng nguyên liệu, tổ chức sản xuất đến đóng gói, liên kết doanh nghiệp (DN), việc phát triển và duy trì MSVT đang từng bước nâng khả năng tiếp cận thị trường theo hướng chính ngạch, ổn định.

Nông dân từng bước thay đổi quy trình sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Trong ảnh: Nông dân trồng dừa tại xã Trung Hiệp.
Nông dân từng bước thay đổi quy trình sản xuất để đáp ứng yêu cầu của thị trường. Trong ảnh: Nông dân trồng dừa tại xã Trung Hiệp.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh hiện có trên 223.800ha cây lâu năm, sản lượng ước đạt 3,13 triệu tấn. Trong đó, diện tích dừa trên 122.480ha, sản lượng khoảng 1,28 triệu tấn; cây ăn trái khoảng 101.380ha, sản lượng ước 1,85 triệu tấn.

Quy mô sản xuất lớn đặt ra yêu cầu phải sản xuất theo nhu cầu của thị trường. Trong quá trình này, MSVT đóng vai trò nhận diện vùng nguyên liệu, xác định nơi sản xuất, phục vụ truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu kiểm dịch khi nông sản xuất khẩu.

Đến nay, toàn tỉnh có 807 MSVT với 28.799ha. Trong đó, có 639 MSVT xuất khẩu, diện tích gần 26.061ha, phục vụ các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, EU, Hàn Quốc, Úc… với sản phẩm sầu riêng, chôm chôm, nhãn, khoai lang, bưởi, dừa.

Cùng với vùng trồng, tỉnh có 107 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sầu riêng, dừa, chôm chôm, xoài. Đây là khâu quan trọng, để một lô hàng vào được thị trường nhập khẩu, sản phẩm cần xuất phát từ vùng trồng đáp ứng yêu cầu và được thu gom, phân loại, sơ chế, đóng gói tại cơ sở đủ điều kiện và bảo đảm truy xuất nguồn gốc.

Việc hình thành tổ chức liên kết sản xuất tạo nền tảng thuận lợi hơn cho quản lý vùng nguyên liệu. Toàn tỉnh hiện có 94 tổ hợp tác (THT), 85 hợp tác xã (HTX) và 4 tổ liên kết tham gia chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Riêng chuỗi dừa có 36 HTX và 36 THT tham gia vùng sản xuất với diện tích trên 10.094ha; chuỗi bưởi da xanh có 21 HTX và 8 THT; chuỗi chôm chôm có 3 HTX và 22 THT.

Thông qua THT, HTX, hộ sản xuất có điều kiện thống nhất quy trình canh tác, ghi chép nhật ký, kiểm soát vật tư đầu vào và thuận lợi hơn khi liên kết DN. Ông Võ Văn Bê - Giám đốc HTX Chôm chôm Java Tân Khánh (xã Trà Ôn) cho biết: HTX có hơn 20ha sản xuất với 12 MSVT.

Việc xây dựng mã số đòi hỏi sự nỗ lực của HTX và người dân trong tổ chức sản xuất, tuân thủ yêu cầu kỹ thuật, ghi chép và truy xuất nguồn gốc. Khi có MSVT, sản phẩm thuận lợi hơn trong tiêu thụ trong nước và đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Thông qua liên kết với DN có nhà máy chế biến, xuất khẩu, HTX tổ chức sản xuất theo yêu cầu thị trường và kết nối tiêu thụ, góp phần tạo đầu ra ổn định hơn cho thành viên.

Theo ngành nông nghiệp, dư địa phát triển MSVT của tỉnh vẫn còn lớn. Tuy nhiên, ở một số ngành hàng, diện tích đã đăng ký xây dựng mã số vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất. Chẳng hạn, trong khi bưởi đang được chuẩn bị điều kiện để mở rộng thị trường xuất khẩu sang Trung Quốc thì diện tích đăng ký mới trên 200ha; nhãn khoảng 50ha, chanh khoảng 144ha.

Điều này đặt ra yêu cầu tăng số lượng mã và cần xác định rõ vùng nguyên liệu nào có khả năng liên kết DN, đáp ứng yêu cầu sản xuất, phù hợp nhu cầu của từng thị trường để ưu tiên xây dựng. Một khó khăn khác là sản xuất nông nghiệp của tỉnh vẫn còn nhỏ lẻ, phân tán; liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ ở một số ngành hàng chưa chặt chẽ.

Thị trường tiêu thụ một số nông sản còn phụ thuộc nhiều vào thương lái. Do đó, phát triển MSVT cần gắn với tổ chức lại sản xuất và xây dựng đầu ra. Tỉnh định hướng vận động nông dân cùng ngành hàng, cùng sản phẩm tham gia THT, từng bước hình thành HTX hoặc tham gia HTX đang hoạt động tại địa phương.

Khi vùng nguyên liệu được tổ chức tương đối tập trung, DN có thể tham gia sớm hơn vào quá trình sản xuất, hướng dẫn tiêu chuẩn, xây dựng kế hoạch thu mua và tổ chức đóng gói phục vụ xuất khẩu. Việc xây dựng mã số nhờ đó gắn với nhu cầu thực tế của thị trường, hạn chế tình trạng có mã nhưng chưa có đầu ra ổn định.

Theo ông Lê Văn Dũng - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, MSVT và mã số cơ sở đóng gói không đơn thuần là điều kiện phục vụ xuất khẩu. Thông qua quá trình xây dựng và quản lý mã số, vùng sản xuất phải từng bước đáp ứng yêu cầu về quy trình canh tác, truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật và an toàn thực phẩm.

Người sản xuất cũng phải chuyển dần từ canh tác chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang thực hiện quy trình phù hợp với yêu cầu của từng thị trường. Bên cạnh đó, DN và HTX cần chủ động liên kết với nông dân xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, hỗ trợ kỹ thuật, hướng dẫn quy trình sản xuất và thực hiện liên kết tiêu thụ. Sự tham gia của DN từ đầu giúp xác định rõ sản phẩm, tiêu chuẩn và thị trường hướng đến, qua đó nâng khả năng duy trì chuỗi liên kết.

Cùng với mở rộng mã số, ngành nông nghiệp xác định cần chuyển trọng tâm sang quản lý và duy trì mã số đã được cấp. Bởi sau khi được cấp mã, vùng trồng vẫn phải bảo đảm điều kiện đăng ký, duy trì ghi chép nhật ký, kiểm soát quy trình sản xuất và tuân thủ yêu cầu của nước nhập khẩu.

Theo định hướng của tỉnh, ngành nông nghiệp sẽ tiếp tục rà soát MSVT và cơ sở đóng gói hiện có, đánh giá khả năng duy trì cũng như nhu cầu mở rộng; đồng thời phối hợp địa phương xem xét nâng cấp những mã số nội địa đủ điều kiện sang phục vụ xuất khẩu. Những mã không còn đáp ứng yêu cầu hoặc không còn hoạt động thực tế sẽ được rà soát, xử lý phù hợp.

Các địa phương tiếp tục tập huấn quy trình sản xuất, ghi chép nhật ký, truy xuất nguồn gốc và phổ biến yêu cầu của từng thị trường; tăng cường quản lý dữ liệu số đối với vùng trồng, cơ sở đóng gói và kiểm soát việc sử dụng mã số. Trong 3 tháng cuối năm, ngành nông nghiệp xác định tiếp tục phối hợp xây dựng tổ công tác hỗ trợ HTX về chứng nhận hữu cơ, MSVT và tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, HACCP…

Từ vùng nguyên liệu được tổ chức, MSVT, cơ sở đóng gói đến liên kết DN là khâu có quan hệ chặt chẽ trong chuỗi xuất khẩu. Vì vậy, giá trị của mã số không nằm ở số lượng được cấp mà ở khả năng duy trì vùng sản xuất đáp ứng yêu cầu và gắn được với thị trường tiêu thụ. Đây là cơ sở để nông sản tỉnh từng bước mở rộng “đường đi” vào những thị trường có yêu cầu ngày càng cao.