• :
  • :

Nâng cao chuỗi giá trị, tạo đầu ra ổn định cho sầu riêng

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sầu riêng (SR) là một trong những cây trồng đặc sản của tỉnh, có diện tích và giá trị kinh tế tương đối cao so với các loại cây trồng khác. Tuy nhiên, ngành hàng “tỷ đô” này cũng đang đứng trước nhiều rủi ro, thách thức, cần có giải pháp thích hợp để nâng cao chuỗi giá trị, cũng như bảo đảm đầu ra ổn định cho trái SR.

 

Ngành hàng sầu riêng Việt Nam đang phát triển “nóng”.
Ngành hàng sầu riêng Việt Nam đang phát triển “nóng”.

 

Ngành hàng SR đã và đang trở thành một trong những ngành hàng có tốc độ tăng trưởng và xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong những năm qua; đặc biệt là sau khi ký kết Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật với Trung Quốc.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, những năm gần đây, chế biến SR đang chuyển mình mạnh mẽ từ bán thô sang chế biến sâu, không chỉ bán trái tươi, các doanh nghiệp đang nghiên cứu, sản xuất sản phẩm như: SR cấp đông, kem SR, SR sấy thăng hoa, bánh phồng SR… để gia tăng giá trị thương mại của trái SR. Thị trường tiêu thụ SR hiện nay đang chuyển dịch mạnh mẽ từ bán lẻ truyền thống sang xuất khẩu chính ngạch và liên kết chuỗi giá trị. Việc liên kết giữa nông dân thông qua HTX với doanh nghiệp thu mua đã mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Ông Lê Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Hiện nay, vùng trồng SR đang chuyển hướng bền vững từ tăng diện tích sang nâng cao chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, quy hoạch mã số vùng trồng và tăng cường liên kết chuỗi giá trị. Trọng tâm là sản xuất sạch và an toàn, minh bạch nguồn gốc và chế biến sâu để đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu quốc tế. Việc mở rộng mã số vùng trồng và quy định cho phép xuất khẩu SR đông lạnh đã giúp hàng hóa thông quan thuận lợi. Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất, chiếm hơn 90% kim ngạch xuất khẩu.

Bên cạnh những thành quả ấn tượng, mặt hàng SR cũng đang đối mặt với nhiều thách thức , từ nhu cầu thị trường sụt giảm, sự cạnh tranh quyết liệt và chia sẻ thị phần của Thái Lan, Campuchia, Malaysia... đến việc kiểm soát an toàn thực phẩm; sử dụng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất nguồn gốc. Trong khi hiện nay, chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý vi phạm trong việc cấp và sử dụng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói, chủ yếu vẫn dựa vào thỏa thuận song phương với nước nhập khẩu nên chưa đủ sức răn đe.

Ông Nguyễn Văn Trưng- Giám đốc HTX SR Chánh An (xã Cái Nhum) cho biết: Trong khi diện tích trồng SR tăng nhanh thì thị trường xuất khẩu SR chủ yếu phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc. Sự phụ thuộc quá lớn này là một trong những nguyên nhân biến động về kim ngạch xuất khẩu SR. Thách thức về biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn; sự phát triển nóng và phá vỡ quy hoạch do người dân ồ ạt chặt bỏ cây trồng khác để chuyển sang trồng SR tại vùng không phù hợp, dễ dẫn đến mất cân bằng cung cầu, có thể xảy ra tình trạng “được mùa- mất giá” trong tương lai gần. Việc quản lý mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói còn nhiều kẽ hở.

 

Đánh giá về ngành hàng SR, nhà quản lý, chuyên gia nêu một số hạn chế cần phải cấp bách khắc phục và hành động quyết liệt trong thời gian tới để phát triển bền vững ngành hàng tỷ đô.

Ông Ngô Văn Chánh- Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu trái cây Chánh Thu (xã Chợ Lách) cho biết: SR Việt Nam có chất lượng tốt, nhưng cần tuân thủ tiêu chuẩn nghiêm ngặt từ đối tác. Thời gian qua, vẫn còn tình trạng nông dân sản xuất chưa theo bài bản, chưa bảo đảm minh bạch nguồn gốc. Liên kết giữa doanh nghiệp, HTX, nông dân chưa thực sự bền chặt.

Cần tiếp tục mở rộng diện tích xây dựng mã số vùng trồng sầu riêng tại xã, phường có diện tích tập trung.
Cần tiếp tục mở rộng diện tích xây dựng mã số vùng trồng sầu riêng tại xã, phường có diện tích tập trung.

Theo ông Lê Văn Dũng, ngành hàng SR Việt Nam đang phát triển “nóng”, mang lại lợi nhuận cao nhờ xuất khẩu chính ngạch sang Trung Quốc, đặc biệt là lợi thế về chất lượng và kỹ thuật xử lý SR nghịch vụ. Tuy nhiên, ngành đối mặt với thách thức lớn về quản lý chất lượng (sượng, tồn dư chất), cạnh tranh gay gắt, rủi ro kỹ thuật và sự phân hóa thị trường.

Nhằm phát huy tối đa tiềm năng thế mạnh và khắc phục những hạn chế, thời gian qua, ngành nông nghiệp tỉnh đã thực hiện nhiều giải pháp phát triển ngành SR như: triển khai mô hình canh tác SR an toàn theo tiêu chuẩn GAP, sử dụng chế phẩm sinh học để nâng cao chất lượng hướng tới thị trường xuất khẩu. Đẩy mạnh xây dựng, quản lý và truy xuất nguồn gốc, quy hoạch lại vùng trồng, cải tạo đất, giảm thiểu kim loại nặng, đào ao trữ nước ngọt nhằm chủ động ứng phó với hạn, mặn. Khuyến khích người dân xử lý ra hoa nghịch mùa để né mặn và tập huấn, hướng dẫn nông dân áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác.

Tính đến năm 2025, diện tích SR toàn tỉnh là 8,14 ngàn hecta. Trong đó, ở giai đoạn kinh doanh trên 4,1 ngàn hecta, sản lượng thu hoạch trên 62,2 ngàn tấn. Vùng trồng SR tập trung nhiều nhất tại xã Quới Thiện, Cái Nhum, Tân Phú và Chợ Lách,... Toàn tỉnh có 72 mã số vùng trồng SR xuất khẩu (58 mã số đang hoạt động, 14 mã số tạm dừng, thu hồi) với diện tích trên 1,6 ngàn hecta được Hải quan Trung Quốc cấp xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc; 14 mã cơ sở đóng gói SR (4 mã số đang hoạt động, 6 mã số tạm dừng- thu hồi) và 22 mã số vùng trồng nội địa với diện tích 339ha. Sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ được quan tâm, hiện có 265,55ha SR được chứng nhận VietGAP.

Tỉnh có 12 HTX và 44 tổ hợp tác SR tham gia xây dựng vùng trồng, cấp mã số vùng trồng SR xuất khẩu sang Trung Quốc. Giống SR sử dụng trên địa bàn tỉnh gồm ri 6, dona, Sáu Hữu, khổ qua, khổ qua lá bông, Chín Hóa, chuồng bò, Musaking, Blackthorn,… Trong đó, SR ri 6 và Dona chiếm 80-90% diện tích.

Để SR của tỉnh giữ vững vị thế và vươn tầm quốc tế, ông Châu Văn Hòa- Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các cấp, các ngành tập trung thực hiện nhiệm vụ trọng tâm. Cụ thể, đơn vị có liên quan cần phối hợp với địa phương rà soát lại quy hoạch. Chỉ phát triển SR ở những vùng có điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước phù hợp. Kiên quyết không để người dân tự phát chuyển đổi đất lúa, đất không phù hợp sang trồng SR dẫn đến rủi ro về năng suất và môi trường.

Tiếp tục xây dựng mã số vùng trồng. Coi đây là tài sản quốc gia; phải xác định mã số vùng trồng không phải là thủ tục hành chính, mà là “giấy phép thông hành” xuất khẩu. Cần tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ nông dân đăng ký xây dựng mã số, nếu phát hiện trường hợp mượn mã, bán mã hoặc gian lận trong đóng gói, phải thu hồi và xử lý nghiêm theo quy định.

Thời gian tới, tiếp tục mở rộng diện tích xây dựng mã số vùng trồng SR tại xã, phường có diện tích tập trung. Cần khuyến khích doanh nghiệp đầu tư công nghệ chế biến sâu, kho lạnh để giảm áp lực tiêu thụ trái tươi. Doanh nghiệp và người nông dân phải “đi cùng nhau”, cần chủ động ký kết hợp đồng bao tiêu ngay từ đầu vụ, gắn với việc hỗ trợ kỹ thuật cho nông dân để có vùng nguyên liệu sạch, đồng nhất.


 


Tin liên quan