Chủ động ứng phó sụt lún, sạt lở, xâm nhập mặn
ĐBSCL đang phải đối mặt với những tác động ngày càng rõ nét của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, cùng với ảnh hưởng từ các hoạt động phát triển ở thượng nguồn sông Mekong và quá trình khai thác, phát triển nội vùng. Những yếu tố này làm gia tăng mức độ nghiêm trọng, phức tạp và cấp bách của tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn, đặt ra nhiều thách thức lớn đối với đời sống người dân và sự phát triển bền vững của khu vực.
![]() |
| Sạt lở diễn biến phức tạp tại ĐBSCL. Trong ảnh: Sạt lở tại xã Quới Thiện. |
Theo Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, hiện hầu hết các khu vực thuộc vùng ĐBSCL đều xảy ra sụt lún từ 0,5-3 cm/năm; các vùng ven biển phổ biến lún từ 1,5-2,5 cm/năm, nhiều nơi hơn 2,5 cm/năm. Kết quả đo đạc của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy mức độ sụt lún tại vùng ĐBSCL trong vòng 5 năm gần đây từ dưới 5-10cm.
Về sạt lở, từ năm 2016 đến nay đã xuất hiện 812 điểm sạt lở với tổng chiều dài trên 1,2 ngàn kylômet. Ngập úng do triều cường gây ra đã gia tăng đáng kể cả về diện tích và chiều sâu ngập úng, độ ngập sâu trung bình 0,2-0,4m (tăng 5-6% so với 10 năm trước), cá biệt một số nơi ở Cần Thơ và Vĩnh Long ngập sâu 0,6-0,7m; thời gian ngập thường kéo dài 2-4 giờ mỗi đợt triều cường.
Xâm nhập mặn ở ĐBSCL có xu thế ảnh hưởng sớm hơn từ 1-1,5 tháng (so với năm 2013 trở về trước). Thêm vào đó, hạn mặn khốc liệt cũng diễn ra nhiều hơn, trong 10 năm gần đây ĐBSCL đã xuất hiện 3 đợt hạn hán, xâm nhập mặn lớn, trong đó có 2 đợt cao lịch sử là mùa khô năm 2015-2016 (ranh mặn 4g/l vào sâu 60-73km), năm 2019-2020 (ranh mặn 4g/l vào sâu 70-80km), năm 2023-2024 được xem là nhẹ hơn.
Ông Phạm Đức Luận- Cục trưởng Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai cho biết: Tác động cơ bản gây sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn gia tăng, nguyên nhân chính do phát triển kinh tế thượng nguồn sông Mekong; xây dựng hồ chứa nước; khai thác cát; gia tăng diện tích tưới; khai thác vận hành kênh đào Phù Nam… Ngoài ra, còn có tác động do phát triển kinh tế- xã hội nội vùng ĐBSCL; sự gia tăng dân số; biến đổi khí hậu.
Ông Trương Cảnh Tuyên- Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP Cần Thơ cho biết: TP Cần Thơ hiện có hơn 6,3 ngàn kylômet vuông, dân số gần 4,2 triệu người. Địa phương đang quản lý hệ thống thủy lợi quy mô lớn với gần 12,9 ngàn kylômet kênh rạch, 72km bờ biển, gần 668km đê bao, 889 cống và 292 trạm bơm điện. Từ thực tiễn, TP Cần Thơ kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm hoàn thiện các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật về quản lý tài nguyên nước, khai thác cát, nước ngầm và hạ tầng thích ứng biến đổi khí hậu; đồng thời ưu tiên đầu tư các công trình kiểm soát sụt lún, sạt lở, ngập úng và xâm nhập mặn mang tính liên vùng.
Theo chuyên gia, tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng và xâm nhập mặn tại vùng ĐBSCL tiếp tục diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn so với trước đây; nhiều khu vực sạt lở đặc biệt nguy hiểm, ngập úng đô thị ngày càng gia tăng. Đây không còn là vấn đề riêng của từng địa phương mà là thách thức liên vùng, liên ngành, lâu dài và có tác động trực tiếp đến ổn định dân sinh, phát triển bền vững và an ninh quốc gia.
Trong bối cảnh đó, việc Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 26-KL/TW có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với vùng ĐBSCL; đồng thời, xác định rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng và các nhóm nhiệm vụ, giải pháp mang tính chiến lược, tổng thể, lâu dài để xử lý tận gốc các vấn đề của vùng.
![]() |
| Quan tâm bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân trong phòng chống, ứng phó thiên tai. Trong ảnh: Gia cố đê bao tại cồn Thanh Long. |
Tại hội nghị triển khai Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026-2035, vừa tổ chức tại TP Cần Thơ, ông Trịnh Việt Hùng- Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các bộ, ngành, các địa phương trong vùng ĐBSCL khẩn trương quán triệt, cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động rõ ràng, khả thi, xác định cụ thể trách nhiệm, tiến độ và nguồn lực thực hiện.
Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ Bộ Chính trị yêu cầu trong quý II/2026, nhất là rà soát, cập nhật đầy đủ nội dung liên quan đến sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn và lấn biển trong các quy hoạch có liên quan. Các địa phương cần tăng cường quản lý chặt chẽ tài nguyên nước, khai thác cát lòng sông, khai thác nước ngầm và kiểm soát xây dựng ven sông, ven biển; kiên quyết thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm vi phạm.
Cần ưu tiên bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của người dân; tập trung bố trí, di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ cao sạt lở, sụt lún, ngập úng, gắn với đầu tư hạ tầng và ổn định sinh kế lâu dài, tuyệt đối không để người dân tiếp tục sinh sống trong vùng nguy hiểm. Đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị và triển khai các dự án trọng điểm giai đoạn 2026-2030, trong đó có 8 dự án ưu tiên với tổng kinh phí khoảng 32,6 ngàn tỷ đồng; bảo đảm phối hợp chặt chẽ, hoàn thiện thủ tục, giải phóng mặt bằng đúng tiến độ.
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông toàn vùng; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển vật liệu thay thế cát, mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng, tiết kiệm nước, kinh tế tuần hoàn và tăng trưởng xanh.
“Với sự quan tâm đặc biệt của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, các ngành; tinh thần đoàn kết, chủ động và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và Nhân dân vùng ĐBSCL, chúng ta sẽ từng bước kiểm soát, giảm thiểu những thiệt hại do sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn. Qua đó, xây dựng ĐBSCL thực sự trở thành vùng phát triển bền vững, thịnh vượng, an toàn và là trung tâm kinh tế nông nghiệp chiến lược của đất nước trong điều kiện biến đổi khí hậu”- ông Trịnh Việt Hùng nhấn mạnh.
Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL của Bộ Chính trị ban hành đã quán triệt quan điểm chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, tôn trọng quy luật tự nhiên, nhận diện đúng bản chất, nguyên nhân của sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL để có giải pháp xử lý tận gốc, bảo đảm tính tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giải pháp phi công trình và công trình; lấy đời sống người dân làm thước đo quan trọng nhất, lấy phát triển kinh tế- xã hội làm trọng tâm, lấy giữ vững môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL làm nguyên tắc nền tảng.



