Gắn mã số vùng trồng với chuỗi liên kết để xuất khẩu
Việc xây dựng, quản lý mã số vùng trồng (MSVT) chuyển dịch từ chú trọng số lượng sang nâng cao chất lượng, hiệu quả thực chất. Yêu cầu đặt ra là MSVT gắn với vùng sản xuất ổn định, bảo đảm truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng, liên kết tiêu thụ bền vững. Đây là yếu tố quan trọng nâng cao uy tín nông sản, duy trì thị trường xuất khẩu (XK) hiện có, mở rộng thị trường mới.
![]() |
| Ngành chức năng cần đẩy mạnh tuyên truyền, tập huấn về quản lý chất lượng, truy xuất nguồn gốc và duy trì mã số. Ảnh: TRÀ MY |
Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định công tác xây dựng, quản lý MSVT, cơ sở đóng gói nhận sự quan tâm sát sao từ các cấp, ngành. Vùng trồng định hướng gắn sản xuất nông sản chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn khắt khe từ thị trường nhập khẩu.
Công tác tuyên truyền, tập huấn, giám sát dư lượng thuốc BVTV, đối tượng kiểm dịch thực vật triển khai đồng bộ. Năm 2026, ngành chức năng tổ chức 44 lớp tập huấn về MSVT, cơ sở đóng gói cho hơn 1,2 ngàn người. Đồng thời, cán bộ phụ trách quản lý tại xã, phường tham gia đào tạo chuyên môn bài bản.
Ông Nguyễn Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, đơn vị giao Chi cục Trồng trọt và BVTV trực tiếp giám sát vùng trồng, cơ sở đóng gói. Phần lớn các đơn vị tuân thủ quy định Việt Nam và nước nhập khẩu, lưu trữ hồ sơ đầy đủ, bảo đảm thời gian cách ly thuốc BVTV, sử dụng phân bón đúng danh mục. Tỉnh tiếp tục mở rộng diện tích MSVT cây ăn trái, dừa phục vụ XK. Ngành nông nghiệp chuẩn bị điều kiện XK bưởi sang Trung Quốc với 63 MSVT, diện tích hơn 1,1 ngàn ha và 13 cơ sở đóng gói đạt chuẩn.
Dù đạt kết quả tích cực, việc duy trì MSVT gặp một số khó khăn. Một bộ phận thành viên chưa cập nhật nhật ký canh tác phần mềm điện tử, chưa quen kiểm soát thời gian cách ly thuốc, tiềm ẩn nguy cơ dư lượng vượt ngưỡng. Liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp và HTX, tổ hợp tác chưa bền vững. Nông sản chủ yếu tiêu thụ qua thương lái, quy mô liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế.
Hiện tỉnh có 437 vùng trồng phục vụ XK. Một số doanh nghiệp ủy quyền sử dụng mã số nhưng thu mua ít hoặc không thu mua sản phẩm. Thực trạng này gây khó khăn kiểm soát sản lượng, truy xuất nguồn gốc, tiềm ẩn rủi ro bị cảnh báo hoặc tạm dừng mã số. Việc theo dõi sản lượng, giám sát liên kết tại địa phương hạn chế cho thấy MSVT chưa thực sự gắn kết chặt chẽ chuỗi giá trị.
Thời gian tới, ngành nông nghiệp tập trung chất lượng thay vì chạy theo số lượng. Cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra sau cấp mã, xử lý nghiêm hành vi gian lận hồ sơ, vi phạm liên kết. MSVT phải gắn vùng sản xuất ổn định, kiểm soát tốt chất lượng, liên kết chặt chẽ doanh nghiệp và HTX. Ứng dụng công nghệ thông tin giúp rà soát vùng nguyên liệu, quản lý chất lượng đồng bộ, giữ vững uy tín nông sản tỉnh.
Phó Chủ tịch UBND tỉnh- Châu Văn Hòa đề nghị các đơn vị thực hiện nghiêm quy trình cấp, quản lý mã số đúng đối tượng, đúng quy định. Việc kiểm tra, giám sát thường xuyên giúp kịp thời phát hiện, xử lý trường hợp trục lợi mã số. Các đơn vị phối hợp hỗ trợ doanh nghiệp duy trì tiêu chuẩn XK, rà soát nguồn nhân lực, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu kiểm nghiệm sản phẩm.
Toàn tỉnh hiện có 537 vùng trồng với 711 mã số XK và nội địa, tổng diện tích hơn 29 ngàn ha. Khu vực phục vụ XK chiếm 437 vùng trồng, 611 mã số, diện tích hơn 25 ngàn ha. Thị trường tiêu thụ đa dạng gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, EU, Hàn Quốc, Úc. Sản phẩm chủ lực bao gồm sầu riêng, chôm chôm, nhãn, khoai lang, bưởi, dừa. Tỉnh sở hữu 42 cơ sở đóng gói với 107 mã số XK, mở ra cơ hội lớn cho nông sản địa phương vươn tầm quốc tế.


