• :
  • :

Liên kết chuỗi giá trị để phát triển bền vững ngành dừa

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Để ngành dừa phát triển theo hướng phát thải thấp, đáp ứng tiêu chuẩn xanh của thị trường quốc tế, cần đồng bộ giải pháp từ cơ chế, chính sách, khoa học công nghệ đến doanh nghiệp (DN) và người sản xuất. Sự liên kết này tạo nền tảng hình thành chuỗi giá trị dừa bền vững, giúp chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp thích ứng thực tế biến đổi khí hậu.

 

Vườn dừa sáp cấy phôi của nông dân Huỳnh Văn Đức (bên phải) được phát triển từ nguồn vốn tín dụng chính sách.
Vườn dừa sáp cấy phôi của nông dân Huỳnh Văn Đức (bên phải) được phát triển từ nguồn vốn tín dụng chính sách.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thanh- Chủ tịch Hiệp hội Dừa Việt Nam, cây dừa đang chịu tác động ngày càng rõ nét của xâm nhập mặn, thời tiết cực đoan và sự gia tăng đối tượng sâu bệnh. Trong khi thị trường xuất khẩu liên tục nâng cao yêu cầu về dư lượng thuốc BVTV, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và tiêu chuẩn sản xuất xanh. Điều này buộc ngành dừa phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng giảm sử dụng hóa chất, áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học và bảo vệ hệ sinh thái vườn dừa.

Định hướng này phù hợp với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 và Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 16/6/2022 của Trung ương Đảng khóa XIII về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Nghị quyết xác định phát triển nông nghiệp sinh thái, hiện đại và thích ứng biến đổi khí hậu là mục tiêu xuyên suốt. Cùng chính sách phát triển nông nghiệp xanh, việc đẩy mạnh cấp mã số vùng trồng, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số tạo nền tảng quan trọng để ngành dừa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

ThS Nguyễn Ngọc Trai- Phó Trưởng Khoa Nông nghiệp- Thủy sản, Giám đốc Trung tâm Sinh học ứng dụng, Phó Viện trưởng Viện Dừa ĐBSCL cho biết: Việc ứng dụng công nghệ sinh học, đặc biệt là kỹ thuật nuôi cấy phôi, có bước đột phá trong chọn tạo và nhân giống dừa sáp, giúp nâng tỷ lệ sáp lên trên 80%, rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng chất lượng cây giống và mang lại giá trị kinh tế vượt trội cho người sản xuất. Những nghiên cứu về giống chịu mặn, quy trình canh tác giảm phát thải, tận dụng phụ phẩm để phát triển kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững.

Để tiến bộ khoa học đi vào thực tiễn, nhiều DN đã chuyển từ mô hình thu mua truyền thống sang đầu tư trực tiếp vùng nguyên liệu, đồng hành với nông dân trong toàn bộ quá trình sản xuất. Công ty CP Xuất nhập khẩu Bến Tre (Betrimex) là đơn vị tiên phong xây dựng chuỗi liên kết hữu cơ. Thông qua liên kết với HTX Dịch vụ nông nghiệp công bằng Hưng Lễ hình thành hơn 450ha dừa đạt chứng nhận hữu cơ và thương mại công bằng. Ngoài hỗ trợ kỹ thuật và chứng nhận quốc tế, DN trích quỹ phúc lợi cộng đồng đầu tư hạ tầng nông thôn, góp phần cải thiện đời sống người dân. Trong năm 2026, Betrimex tiếp tục mở rộng vùng nguyên liệu hữu cơ tại 13 xã với tỷ lệ đăng ký của nông dân đạt trên 102% kế hoạch.

Sự đồng hành của DN tạo động lực để nhiều địa phương đẩy mạnh xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn. Hiện tỉnh có diện tích dừa lớn nhất cả nước với hơn 122 ngàn hecta; trong đó gần 36 ngàn hecta đạt chứng nhận hữu cơ và hơn 81 ngàn hecta sản xuất theo hướng ứng dụng công nghệ cao. Tại xã Tiểu Cần, gần 800 hộ dân với hơn 440ha dừa đạt chứng nhận hữu cơ quốc tế. Theo ông Nguyễn Văn Tám- Bí thư Đảng ủy xã Tiểu Cần, xã đang phối hợp với DN xây dựng vùng nguyên liệu khoảng 1 ngàn hecta gắn với mã số vùng trồng. Việc này giúp tổ chức sản xuất bài bản, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu và nâng chất lượng sản phẩm.

Là hộ tiên phong chuyển đổi, ông Huỳnh Bảo Kỳ (ấp Phú Thọ II, xã Tiểu Cần) đã phát triển 1,2ha dừa hữu cơ trên đất lúa kém hiệu quả. Theo ông Kỳ, nông dân cần được tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn ghi chép nhật ký điện tử và bao tiêu ổn định để yên tâm sản xuất.

Để hỗ trợ nông dân chuyển đổi, cùng với khoa học và DN thì nguồn vốn tín dụng chính sách là nguồn lực quan trọng. Ông Dương Văn Khén- Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Cầu Kè cho biết: 6 tháng đầu năm 2026, đơn vị giải ngân hơn 116 tỷ đồng cho hơn 2,3 ngàn lượt hộ vay; tổng dư nợ trên 634 tỷ đồng. Đơn vị tiếp tục ưu tiên mô hình phát triển vùng nguyên liệu dừa, cải tạo vườn cây ăn trái và nông nghiệp xanh.

Nông dân Huỳnh Văn Đức (Ấp I, xã Phong Thạnh) sử dụng hiệu quả nguồn vốn để sản xuất. Năm 2016, ông vay 50 triệu đồng cải tạo 6 công vườn tạp, đầu tư trồng dừa sáp cấy phôi. Đến nay vườn có 120 gốc, mang lại lợi nhuận khoảng 60-70 triệu đồng/năm. Theo ông Khưu Chí Cường- Chủ tịch Hội Nông dân xã Phong Thạnh, vốn tín dụng chính sách giúp hội viên phát triển mô hình dừa sáp, lúa chất lượng cao và nuôi thủy sản. Tổ hội nghề nghiệp còn hỗ trợ nông dân chia sẻ kinh nghiệm, liên kết sản xuất và tham gia chuỗi giá trị.

Thực tiễn cho thấy, phát triển ngành dừa theo hướng xanh là yêu cầu tất yếu để giữ vững thị trường. Khi nhà nước kiến tạo chính sách, DN đầu tư vùng nguyên liệu, tín dụng chính sách hỗ trợ và nông dân chủ động thay đổi tư duy, chuỗi giá trị dừa sẽ kết nối chặt chẽ, tạo động lực phát triển bền vững.

 

 

 


 


Tin liên quan