• :
  • :

Chuyển đổi xanh để bảo vệ vựa lúa đồng bằng

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Trước những ảnh hưởng ngày càng lớn từ biến đổi khí hậu (BĐKH), yêu cầu giảm phát thải và tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế, nông nghiệp ĐBSCL đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ. Theo đó, chuyển đổi xanh (CĐX) không chỉ là giải pháp thích ứng với BĐKH mà còn mở ra cơ hội nâng cao giá trị nông sản, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường toàn cầu.

 

 

Nhận thức của nông dân, HTX và doanh nghiệp về sản xuất xanh ngày càng được nâng cao.
Nhận thức của nông dân, HTX và doanh nghiệp về sản xuất xanh ngày càng được nâng cao.

 

Là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, ĐBSCL đang đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với an ninh lương thực và xuất khẩu nông sản. Tuy nhiên, những thách thức từ BĐKH cùng những hạn chế nội tại của mô hình sản xuất truyền thống đang đặt khu vực này trước yêu cầu phải thay đổi tư duy phát triển.

Theo chuyên gia kinh tế, ĐBSCL hiện đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu và trên 31% GDP toàn ngành nông nghiệp. Tuy nhiên, vùng đất được xem là “vựa lúa” của cả nước đang chịu tác động ngày càng rõ nét của hạn hán, xâm nhập mặn, sụt lún đất và nước biển dâng. Nông nghiệp ĐBSCL còn chịu áp lực từ mô hình sản xuất truyền thống vốn phụ thuộc nhiều vào phân bón hóa học, thuốc BVTV và khai thác tài nguyên theo chiều rộng.

Ông Lý Việt Hùng- Trưởng Phòng Kinh tế trung hòa carbon (Cục BĐKH), nhận định nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực ĐBSCL đang đứng trước thách thức kép. Một mặt, khu vực này chịu tác động ngày càng nghiêm trọng của BĐKH; mặt khác, chính hoạt động sản xuất nông nghiệp truyền thống lại góp phần làm gia tăng phát thải khí nhà kính. Theo ông Hùng, CĐX không còn là xu hướng mang tính lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để bảo vệ vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của quốc gia.

Ở góc độ nghiên cứu, PGS.TS Châu Minh Khôi- Phó Hiệu trưởng Trường Nông nghiệp (ĐH Cần Thơ), cho rằng những tập quán sản xuất truyền thống như đốt rơm rạ, tưới ngập hay sử dụng quá mức phân bón hóa học đang tạo ra lượng phát thải lớn. Vì vậy, việc chuyển dịch sang mô hình nông nghiệp carbon thấp, ứng dụng khoa học, công nghệ là hướng đi tất yếu để thích ứng với BĐKH và nâng cao hiệu quả sản xuất.

Thực tế cho thấy, quá trình CĐX hiện vẫn còn gặp không ít rào cản. Theo ông Trần Hồ Văn Khoa- Giám đốc Công ty TNHH Techpal Sóc Trăng, thói quen sử dụng hóa chất trong sản xuất vẫn còn phổ biến. Trong khi đó, để đạt tiêu chuẩn hữu cơ, đất canh tác cần thời gian chuyển đổi từ 2-3 năm, đòi hỏi chi phí đầu tư và sự kiên trì rất lớn từ người sản xuất.

Theo báo cáo kiểm kê khí nhà kính mới nhất, lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam phát thải gần 90 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Riêng canh tác lúa nước chiếm khoảng 45 triệu tấn, tiếp theo là chăn nuôi với khoảng 20 triệu tấn. Hoạt động như đốt rơm rạ, tưới ngập thường xuyên, thâm canh 3 vụ lúa hay lạm dụng phân bón hóa học đã làm gia tăng lượng khí methane và N₂O- những loại khí gây hiệu ứng nhà kính mạnh hơn nhiều lần so với CO₂.

Theo ông Lý Việt Hùng, việc chuyển từ canh tác truyền thống sang sản xuất ứng dụng công nghệ cao mang lại nhiều lợi ích thiết thực. Các giải pháp tự động hóa, quản lý thông minh và ứng dụng trí tuệ nhân tạo có thể giúp giảm đến 40% lượng nước tưới, cắt giảm hơn 50% lượng phát thải khí nhà kính và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Đặc biệt, trong tương lai, nông dân không chỉ hưởng lợi từ giá trị gia tăng của nông sản xanh mà còn có cơ hội tham gia thị trường tín chỉ carbon- một nguồn thu mới đang được nhiều quốc gia quan tâm phát triển.

Nhiều mô hình sản xuất mới đã chứng minh hiệu quả thực tế. PGS.TS Châu Minh Khôi giới thiệu mô hình cải tiến quản lý đất thông qua sử dụng phân compost, than sinh học (biochar) kết hợp luân canh lúa với cây trồng cạn. Giải pháp này không chỉ giảm phát thải khí methane mà còn cải thiện độ phì nhiêu của đất. Đáng chú ý, mô hình luân canh lúa- dưa hấu giúp đa dạng hóa sinh kế và tăng lợi nhuận cho nông hộ từ 75-163% so với sản xuất lúa đơn thuần.

Tại Vĩnh Long, CĐX đang được triển khai ngày càng mạnh mẽ. Theo ông Văn Hữu Huệ- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, nhận thức của nông dân, HTX và doanh nghiệp về sản xuất xanh ngày càng được nâng cao. Diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ và mô hình lúa chất lượng cao phát thải thấp liên tục mở rộng. Cùng với đó, nhiều tiến bộ về cơ giới hóa, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, hệ thống tưới tiết kiệm và công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp được ứng dụng rộng rãi. Chuỗi liên kết sản xuất- tiêu thụ ngày càng phát triển, góp phần nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản địa phương.

Theo chuyên gia, để CĐX thành công cần dựa trên 3 trụ cột gồm công nghệ phù hợp, thị trường tiêu thụ ổn định và cơ chế chia sẻ lợi ích hài hòa giữa các bên tham gia. TS Trần Hữu Hiệp cho rằng công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với nhu cầu thị trường. Đồng thời, doanh nghiệp, nông dân, HTX và nhà đầu tư cần chuyển từ mối quan hệ mua bán đơn thuần sang mô hình cùng đầu tư, cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro.

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội- Lê Minh Hoan cho rằng, CĐX trong nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc áp dụng công nghệ mới mà quan trọng hơn là chuyển đổi tư duy từ sản xuất truyền thống sang kinh tế tuần hoàn và kinh tế hệ sinh thái nông nghiệp. Theo đó, phụ phẩm và chất thải trong sản xuất cần được tái sử dụng để tạo ra giá trị mới. Một cánh đồng trong tương lai không chỉ tạo ra lúa gạo mà còn có thể hấp thụ carbon, nuôi thủy sản, phát triển du lịch, bảo tồn đa dạng sinh học và tạo sinh kế cho cộng đồng.

“Điều cần thiết hiện nay không chỉ là tạo ra sản phẩm xanh mà còn phải hình thành thị trường xanh, nơi những giá trị môi trường và xã hội được ghi nhận và trả giá xứng đáng. CĐX không chỉ là cuộc cách mạng công nghệ mà còn là cuộc cách mạng về thị trường, hành vi tiêu dùng và cách xã hội định giá các giá trị bền vững”, ông Lê Minh Hoan nhấn mạnh.