Xuất khẩu gạo 2026 và bài toán phát triển bền vững
Xuất khẩu (XK) gạo của Việt Nam trong những tháng đầu năm 2026 tăng về sản lượng nhưng giảm về kim ngạch, phản ánh rõ tác động từ những biến động phức tạp của thị trường lương thực toàn cầu. Dù nguồn cung trong nước dồi dào, chuyên gia nhận định thị trường thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi sự điều hành linh hoạt và chiến lược dài hạn.
Kỳ 1: Cơ hội và thách thức trong biến động thị trường
![]() |
| Xuất khẩu gạo đang đứng trước nhiều cơ hội lẫn thách thức đan xen. |
Theo số liệu của Cục Hải quan, XK gạo Việt Nam trong đầu năm 2026 tăng trưởng khoảng 2,3% so với cùng kỳ năm 2025. XK gạo ghi nhận nhu cầu nhập khẩu tăng cao (tại thời điểm 2 tháng đầu năm) từ một số thị trường truyền thống của Việt Nam như: Philippines, Trung Quốc, Malaysia… Sự quay trở lại của thị trường Philippines sau khi nước này dỡ bỏ lệnh tạm ngừng nhập khẩu gạo, nhu cầu nhập khẩu gạo từ Trung Quốc tăng cao để phục vụ nhu cầu trong dịp Tết Nguyên đán là yếu tố hỗ trợ, giúp tăng lượng XK gạo của Việt Nam cũng như giảm tải phần nào áp lực đối với giá gạo Việt Nam thời gian qua.
Công tác điều hành XK gạo đã góp phần tiêu thụ lúa, gạo hàng hóa và bảo đảm lợi ích người trồng lúa theo chính sách hiện hành; bảo đảm cân đối XK và tiêu dùng nội địa; bình ổn giá lúa, gạo trong nước; thực hiện cam kết quốc tế. XK chủng loại gạo có giá trị cao, phù hợp với nhu cầu thị trường và ưu thế của Việt Nam ngày càng tăng mạnh như: gạo thơm, ST các loại, gạo trắng cao cấp.
Ở góc độ sản xuất, nguồn cung năm 2026 được đánh giá khá dồi dào. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, diện tích gieo trồng đạt hơn 7 triệu hecta, giảm 36 ngàn hecta, sản lượng ước đạt hơn 43 triệu tấn, tăng 12 ngàn tấn so với năm 2025. Lượng lúa hàng hóa phục vụ XK đạt khoảng 15,5 triệu tấn, tương đương 7,7 triệu tấn gạo hàng hóa.
Ông Nguyễn Anh Sơn- Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhận định: Cơ cấu thị trường dần chuyển dịch tích cực, đa dạng hóa theo định hướng đề ra tại Chiến lược phát triển thị trường XK gạo của Việt Nam đến năm 2030. Bên cạnh thị trường truyền thống, còn mở rộng sang thị trường “khó tính” như Nhật Bản, châu Âu… với giá trị cao (tuy khối lượng chưa lớn). Điều này cho thấy chất lượng gạo của Việt Nam ngày càng gia tăng và đáp ứng được yêu cầu khắt khe từ thị trường khó tính, đồng thời cho thấy sự tận dụng tốt ưu đãi của các hiệp định.
Tại tỉnh, ông Trần Quốc Tuấn- Giám đốc Sở Công Thương cho biết: “Năm 2025 đầy thử thách khi thời tiết khắc nghiệt khiến năng suất bình quân giảm nhẹ (đạt 56,72 tạ/ha). Tuy nhiên, tỉnh đã duy trì sản lượng xấp xỉ 1,87 triệu tấn. Điểm sáng không nằm ở sản lượng, mà ở sự chuyển mình về chất. Cụ thể, tỉnh đã thoát ly dần nhóm lúa chất lượng thấp (IR 50404 hiện còn 29,4%), tập trung mạnh mẽ vào nhóm gạo thơm, đặc sản như OM 5451, OM 18 và ST24, ST25 (chiếm hơn 68%). Bên cạnh đó, Đề án “1 triệu hecta lúa chất lượng cao, phát thải thấp” giúp lợi nhuận tăng 30%, chi phí giảm 17% và giảm hơn 20% phát thải khí nhà kính. Lúa gạo Vĩnh Long sạch, xanh và đầy trách nhiệm với môi trường toàn cầu”.
Những kết quả này cho thấy XK gạo Việt Nam duy trì đà tăng trưởng, có sự chuyển dịch rõ nét theo hướng nâng chất lượng và giá trị, từng bước khẳng định vị thế trên thị trường khó tính. Tuy nhiên, thực tế cho thấy XK gạo Việt Nam dù có dấu hiệu khởi sắc nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố thiếu bền vững, dễ bị tác động trước những biến động của thị trường trong và ngoài nước.
Theo chuyên gia kinh tế, XK gạo Việt Nam đang chịu nhiều sức ép từ cạnh tranh gia tăng, giá cả biến động, chi phí logistics leo thang và yêu cầu chất lượng ngày càng khắt khe. Những yếu tố này khiến hoạt động XK kém thuận lợi hơn, buộc doanh nghiệp phải chủ động thích ứng để duy trì đơn hàng và giữ vững thị trường.
![]() |
| Trước những biến động của thị trường, ngành lúa gạo cần chủ động thích ứng. |
Ông Phạm Thái Bình- Chủ tịch HĐQT Công ty CP Nông nghiệp Công nghệ cao Trung An (TP Cần Thơ), cho biết: Nhu cầu vẫn tồn tại, đặc biệt ở phân khúc gạo chất lượng cao, nhưng không còn bùng nổ như năm trước. Khách hàng hiện rất thận trọng, họ không ký hợp đồng lớn mà chia nhỏ từng lô. Doanh nghiệp buộc phải chọn đơn hàng kỹ hơn, tránh rủi ro giá tiếp tục giảm sau khi đã ký. Chi phí vận chuyển một container gạo từ Việt Nam sang cảng Hamburg (Đức) đã tăng từ 1,5 ngàn USD lên 2,8 ngàn USD. Tiến độ vận chuyển kéo dài từ 40 ngày lên hơn 2 tháng, kèm theo tình trạng thiếu hụt container nghiêm trọng khi đăng ký 20 container nhưng chỉ xuất được 2 container.
Theo ông Nguyễn Văn Thành- Giám đốc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Phước Thành IV (Vĩnh Long), doanh nghiệp XK gạo đang đối mặt với khó khăn kép từ thị trường và dòng vốn. Việc giải ngân tín dụng chậm khiến doanh nghiệp thiếu nguồn lực thu mua lúa chính vụ, trong khi chi phí vận chuyển tăng mạnh với giá cước quốc tế tăng 10-30%, nội địa tăng 10-20%. Lượng tồn kho gạo toàn cầu còn cao khiến doanh nghiệp thận trọng, hạn chế thu mua quy mô lớn do hợp đồng XK ký kết chậm. Quy định thanh toán không dùng tiền mặt đối với giao dịch trên 5 triệu đồng cũng gây trở ngại khi nhiều nông dân chưa có tài khoản ngân hàng. Công ty Phước Thành IV dự kiến thu mua khoảng 20-30 ngàn tấn lúa để duy trì hoạt động, đồng thời chờ tín hiệu thị trường thuận lợi hơn để mở rộng XK.
Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), xung đột Trung Đông đã đẩy giá dầu tăng mạnh, kéo theo chi phí sản xuất và vận chuyển gia tăng, thậm chí phát sinh nguy cơ thiếu hụt nhiên liệu phục vụ thu hoạch và thu mua. Hệ quả là tiến độ thu hoạch bị chậm, chất lượng lúa giảm, trong khi giá lúa hiện chỉ còn khoảng 5,9 ngàn đồng/kg, thấp hơn trước Tết 400-500 đồng/kg, khiến lợi nhuận của nông dân bị thu hẹp, nhất là với hộ thuê đất sản xuất.
Ở khâu XK, ông Nguyễn Việt San- Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) cho biết: Từ cuối tháng 2/2026, chi phí vận chuyển nội địa tăng thêm khoảng 20-30 ngàn đồng/tấn, thời gian giao hàng quốc tế kéo dài 10-15 ngày, trong khi giá cước tàu, bảo hiểm và tình trạng thiếu container rỗng tiếp tục gây áp lực. Những yếu tố này làm đội chi phí sản xuất, khiến nhiều doanh nghiệp đối mặt nguy cơ thua lỗ với hợp đồng đã ký, buộc phải giãn tiến độ giao hàng hoặc hạn chế ký kết hợp đồng mới.
Ở góc độ địa phương, ông Trần Quốc Tuấn cho rằng: “Chúng ta đang đối mặt với một “cơn gió ngược” từ thị trường quốc tế khi Indonesia và Philippines có những điều chỉnh mạnh mẽ về chính sách nhập khẩu. Chỉ số kinh tế trong nước đang tạo áp lực cực lớn lên chuỗi giá trị lúa gạo. Cụ thể, giá xăng dầu tăng đẩy phí vận chuyển tăng khoảng 30%; giá phân bón, vật tư nông nghiệp tăng từ 15-20%; lãi vay ngân hàng hiện tăng lên mức 9,5% (trong khi cùng kỳ chỉ 5,5%), cùng với “room tín dụng” bị bó hẹp khiến doanh nghiệp thu mua như bị “thắt hầu bao”. XK gạo sụt giảm trên 30%, đòi hỏi chúng ta không chỉ bán cái mình có, mà phải bán cái thị trường cần”.
Trong 2 tháng đầu năm 2026, Philippines tiếp tục là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm tỷ trọng 55,86% tổng lượng gạo XK, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2025. Đứng thứ 2 là thị trường Trung Quốc, chiếm khoảng 14%, tăng 143,7% so với cùng kỳ. Tiếp đó là thị trường Ghana, chiếm khoảng 6,81%, giảm 22,7% so với cùng kỳ. Một số thị trường tăng trưởng: Malaysia (tăng 155%), Úc (tăng 30,6%)… Một số thị trường sụt giảm: Hong Kong (giảm 16,1%), Singapore (giảm 31,2%), Senegal (giảm 53,11%), Bờ Biển Ngà (giảm 68,5%), Indonesia (giảm 81,7%)…
XK gạo trắng các loại vẫn tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, đạt gần 60,4% (trong đó: gạo 5% tấm là 55,76%, còn lại chủng loại gạo khác); gạo thơm các loại chiếm 25,98% tổng lượng XK; gạo nếp chiếm 4,57% tổng lượng XK.
Bà Châu Thị Lệ- Phó Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Tây Ninh, bày tỏ trăn trở thời điểm này Campuchia cũng vào vụ thu hoạch lúa và mỗi ngày có khoảng 1 ngàn tấn lúa từ Campuchia qua biên giới, cũng tạo áp lực không nhỏ cho địa phương.
Thực tế đặt ra yêu cầu ngành lúa gạo không thể chỉ dựa vào lợi thế sản lượng hay thị trường truyền thống, mà cần chủ động thích ứng trước biến động, nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Đây cũng chính là “nút thắt” cần được tháo gỡ trong thời gian tới, nếu muốn hạt gạo Việt Nam trụ vững, vươn xa trên thị trường toàn cầu.



