• :
  • :

Kỳ 2: Giữ vững chuỗi cung ứng cho ngành công nghiệp chế biến sâu

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Cây dừa được xác định là 1 trong 6 loại cây công nghiệp (CN) chủ lực quốc gia và là cây trồng chủ lực của tỉnh. Ngành CN chế biến dừa của tỉnh ghi nhận sự phát triển nhanh chóng. Vấn đề lớn đặt ra cho ngành dừa là định vị công nghệ chế biến dừa so với thế giới, giải pháp duy trì ổn định chuỗi cung ứng cho sản xuất, nâng cao giá trị cây dừa và giữ thu nhập ổn định cho người trồng dừa.

 

HTX Nông nghiệp Thới Thạnh làm tốt vai trò “cánh tay nối dài” của doanh nghiệp và tiêu thụ dừa cho nông dân xã Đại Điền.
HTX Nông nghiệp Thới Thạnh làm tốt vai trò “cánh tay nối dài” của doanh nghiệp và tiêu thụ dừa cho nông dân xã Đại Điền.

 

Theo đánh giá của Hiệp hội Dừa Việt Nam (VCA), ngành CN chế biến dừa Việt Nam, ngành dừa Việt Nam đã và đang nhảy vọt trong những năm gần đây. Đồng nghĩa với ngành dừa có sự đóng góp rất tích cực của cộng đồng doanh nghiệp (DN) sản xuất, chế biến sâu. Cả nước đang có hơn 600 DN tham gia sản xuất và xuất khẩu; trong đó, có dừa tươi (dừa uống nước) và đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe trên thế giới.

Tỉnh có khoảng 151 DN sản xuất chế biến sản phẩm từ dừa, với nhiều loại hình, quy mô hoạt động khác nhau. Về quy mô, có khoảng 10 DN chủ lực đóng vai trò dẫn dắt trong hoạt động chế biến sâu và xuất khẩu.

Tại cuộc họp về liên kết sản xuất và xuất khẩu ngành dừa vào tháng 4/2026, ông Trần Anh Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội Dừa tỉnh cho biết, chuyên gia ngành dừa trên thế giới đã khẳng định công nghệ chế biến tại các nhà máy lớn ở tỉnh nói riêng và Việt Nam đã tiếp cận công nghệ hiện đại và tối ưu nhất hiện nay; ngang bằng công nghệ tiên tiến nhất trên thế giới. Đặc biệt, đóng gói nước dừa, sữa dừa đóng hộp đang áp dụng công nghệ UHT và Aseptic.

“Công nghệ Aseptic là tối ưu nhất hiện nay, giúp sản phẩm có thể xuất khẩu sang thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản mà không cần bảo quản lạnh, giúp giảm chi phí logistics. Chỉ riêng 10 DN “đầu đàn” trong ngành dừa ở tỉnh đã chiếm tới 90% sản lượng chế biến và đóng góp hầu hết vào giá trị xuất khẩu hàng năm của ngành”, ông Trần Anh Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội Dừa tỉnh nhấn mạnh.

Theo ông Phạm Phước Trãi- Phó Giám đốc Sở Công Thương, ngành dừa đã và đang dần khẳng định vai trò là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh, với sự tăng trưởng của giá trị sản xuất CN và xuất khẩu rất cao trong những năm qua. Giá trị sản xuất CN dừa năm 2025 ước đạt khoảng 8,1 ngàn tỷ đồng, tăng 5,84% so với năm 2024, chiếm khoảng 5,96% giá trị sản xuất CN toàn tỉnh. Sản lượng một số sản phẩm chủ yếu, gồm: than hoạt tính, chỉ xơ dừa, cơm dừa nạo sấy, nước cốt dừa, nước dừa đóng lon.

Kim ngạch xuất khẩu ngành dừa ngày càng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng xuất khẩu chung của tỉnh. Tính đến hết quý I/2026, tổng kim ngạch xuất khẩu dừa và sản phẩm từ dừa đạt trên 135 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2025, chiếm khoảng 15,4% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh. Giai đoạn 2024-2025 đã đạt mốc 1 tỷ USD.

Sản phẩm dừa của tỉnh đã có mặt tại khoảng 90 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó, tập trung tại Hoa Kỳ, Canada, EU, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, khu vực Trung Đông, New Zealand, Úc, cùng một số nước khu vực Mỹ Latin và châu Phi.

PGS.TS Phạm Anh Tuấn- Viện Cơ điện Nông nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, kim ngạch xuất khẩu Việt Nam lần đầu tiên vượt mốc với 1,089 tỷ USD (năm 2024); trong đó, sản phẩm tươi thô trên 30% và gần 70% là sản phẩm chế biến. Vươn lên vị trí thứ 3 trong các loại trái cây xuất khẩu chủ lực có kim ngạch xuất khẩu trên tỷ đô, chỉ sau sầu riêng và thanh long. Sản lượng dừa đạt hơn 2 triệu tấn/năm, đứng thứ 4 châu Á- Thái Bình Dương và thứ 5 thế giới về xuất khẩu.

 

Vấn đề được đặt ra là vì sao tỉnh có lực lượng DN chủ lực, phát triển CN chế biến sâu và có liên kết chuỗi nhưng chưa đủ sức cân đối ổn định giá dừa, tạo ổn định thu nhập cho người trồng dừa.

Sản xuất nước dừa xuất khẩu tại Công ty CP Đầu tư Dừa (BEINCO), phường Bến Tre.
Sản xuất nước dừa xuất khẩu tại Công ty CP Đầu tư Dừa (BEINCO), phường Bến Tre.

Xoay quanh vấn đề này, ông Trần Anh Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội Dừa tỉnh cho rằng, nguyên nhân là ngành dừa hội nhập toàn cầu nên giá thu mua dừa nguyên liệu sẽ chịu ảnh hưởng phụ thuộc rất lớn vào thị trường thế giới.

Ông Trần Anh Tuấn chỉ ra yếu tố ảnh hưởng đến giá dừa hiện nay là phụ thuộc cung- cầu thế giới, áp lực DN và kể cả vấn đề cạnh tranh công bằng và trách nhiệm xã hội giữa các DN, cơ sở sản xuất với nhau. Cụ thể, giá dừa tại tỉnh không đứng độc lập mà lệ thuộc chặt chẽ vào thị trường toàn cầu. Đặc biệt, sự biến động từ quốc gia xuất khẩu lớn như: Philippines và Indonesia. Mặt khác, DN lớn phải đầu tư máy móc hiện đại, tuân thủ nghiêm ngặt BHXH, an toàn vệ sinh lao động và tiêu chuẩn quốc tế nên chi phí quản lý cao. Trong khi đó, cơ sở nhỏ lẻ thường không thực hiện đầy đủ chế độ bảo hộ lao động, an toàn vệ sinh, dẫn đến việc họ có thể mua dừa với giá cao hơn để tranh giành nguyên liệu. Đây là sự cạnh tranh không công bằng.

Về vai trò của HTX và địa phương, ông Trần Anh Tuấn nhấn mạnh việc cần sự hỗ trợ của chính quyền địa phương để vận động người dân tham gia HTX. HTX nên đảm nhận khâu sơ chế ban đầu (bóc vỏ, gọt vỏ) để giao nguyên liệu sạch cho nhà máy, giúp DN giảm bớt áp lực về mặt bằng, xử lý rác thải và tạo việc làm tại chỗ cho lao động địa phương.

Báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường chỉ rõ, dù diện tích dừa rất lớn nhưng tỷ lệ diện tích tham gia liên kết sản xuất chỉ khoảng 30%. Đây chính là “điểm nghẽn” cốt lõi. Khi 70% diện tích còn lại vẫn sản xuất phân tán, mua bán theo thương lái và phụ thuộc giá thị trường tự do, thì DN dù có lớn đến đâu cũng không thể điều tiết toàn bộ thị trường nguyên liệu.

Theo ông Lê Văn Dũng- Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, toàn tỉnh có hơn 60% sản lượng dừa DN tại tỉnh được tiêu thụ qua ngành chế biến nội tỉnh để tạo giá trị tăng cao; khoảng 40% sản lượng dừa uống nước sơ chế xuất khẩu; 80% sản lượng dừa sáp bán dưới hình thức nguyên liệu thô chủ yếu là tiêu thụ nội địa. Tính đến hết quý I/2026, DN trong tỉnh đã xuất khẩu trên 16 triệu trái dừa khô, chủ yếu sang thị trường Thái Lan và Trung Quốc. Tỉnh đã xây dựng được nền DN chế biến khá mạnh, nhưng về “kinh tế chuỗi”, hay cơ chế chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa DN với nông dân vẫn phải tiếp tục hoàn thiện.

“Về dài hạn, yếu tố quyết định sự ổn định thu nhập cho người trồng dừa không phải là những đợt “sốt giá” ngắn hạn, mà là khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu của DN chế biến sâu với hợp đồng xuất khẩu ổn định, tiêu chuẩn cao và cơ chế phân chia lợi ích bền vững giữa nông dân- HTX- DN chế biến- thị trường xuất khẩu”, ông Trần Văn Đức- Chủ tịch Hiệp hội DN tỉnh, Tổng Giám đốc Công ty CP Đầu tư Dừa (BEINCO) nêu quan điểm.

Định hướng về giải pháp của ngành chức năng và DN đưa ra là phải chuyển từ liên kết thu mua sang liên kết chuỗi giá trị có cam kết dài hạn. Đặc biệt, cơ chế “giá sàn” cho nông dân. Khi giá thị trường xuống thấp, DN sẽ cam kết mua theo mức giá tối thiểu, khi giá tăng thì mua theo giá thị trường cộng thêm phúc lợi, nhằm để hài hòa lợi ích, bảo đảm nâng cao thu nhập cho người trồng dừa, tạo niềm tin gắn kết ổn định, bền vững giữa nông dân và DN.

“Các cơ quan quản lý tăng cường kiểm tra, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, yêu cầu cơ sở sản xuất, DN nhỏ lẻ cũng phải bảo đảm điều kiện về môi trường, an toàn và quyền lợi người lao động. Đồng thời, để ngành dừa phát triển bền vững, cần có sự đồng hành chặt chẽ giữa “Nhà nước- nhà khoa học- nhà DN- nhà nông” trong một mối liên kết hữu cơ không thể tách rời”, Chủ tịch Hiệp hội Dừa tỉnh- Trần Anh Tuấn đề xuất giải pháp.

(Còn tiếp)


 

 

 


Tin liên quan