Tin mới Tin mới

Chi tiết tin tức
A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Thị trường gia cầm: Không thể tiếp tục tăng đàn theo chiều rộng

Tình trạng dư cung và giá bán xuống thấp cho thấy tăng quy mô chưa đủ tạo lợi thế, ngành gia cầm cần nâng hiệu quả và phát triển chuỗi giá trị.

TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương xung quanh vấn đề này.

Dư cung, chi phí cao cùng gây sức ép

- Thưa ông, thị trường gia cầm 8 tháng qua liên tục ghi nhận những đợt sụt giá sâu, gây thua lỗ lớn cho người nuôi. Dưới góc nhìn của Hiệp hội, đâu là những điểm nghẽn cốt lõi biến áp lực dư cung thành một cuộc khủng hoảng thị trường kéo dài như vậy?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Tình trạng "khủng hoảng kép", vừa thừa cung, sụt giá sâu vừa gánh áp lực chi phí của ngành gia cầm trong 8 tháng đầu năm 2026 xuất phát từ sự cộng hưởng của nhiều yếu tố vĩ mô lẫn vi mô. Theo tôi, có 4 nguyên nhân cốt lõi dẫn đến cuộc khủng hoảng thị trường này.

Mô hình chăn nuôi gà lông màu của gia đình ông Nguyễn Mạnh Hải, thôn Đan Thê, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội.

Mô hình chăn nuôi gà lông màu của gia đình ông Nguyễn Mạnh Hải, thôn Đan Thê, xã Bất Bạt, TP. Hà Nội.

Một là, khủng hoảng cung vượt cầu do làn sóng tăng đàn ồ ạt. Đây là nguyên nhân trực tiếp nhất khiến thị trường gia cầm chao đảo, đặc biệt là trong nửa đầu năm 2026. Từ cuối năm 2025, các doanh nghiệp FDI, tập đoàn chăn nuôi lớn và các doanh nghiệp sản xuất cám liên tục mở rộng quy mô tổng đàn và tăng công suất sản xuất. Hậu quả là có thời điểm giá gà công nghiệp lông trắng lao dốc chạm đáy 22.000 - 24.000 đồng/kg, gà lông màu 45.000 - 48.000 đ/kg; giá trứng tại trại rơi sâu xuống 1.200 - 1.300 đồng/quả, đều nằm dưới giá thành sản xuất, khiến người nuôi càng nuôi càng lỗ. Tuy thị trường có cải thiện nhẹ vào giai đoạn tháng 8-9, giá gà lông trắng vẫn chỉ neo quanh mức 32.000 - 36.000 đồng/kg, gà lông màu 50.000 - 55.000 đ/kg, chưa mang lại biên lợi nhuận tốt.

Hai là, sức mua nội địa phục hồi chậm và bất ổn đầu ra. Sức mua từ thị trường nội địa từ sau Tết Nguyên đán đến nay không đạt kỳ vọng. Nhu cầu tại các bếp ăn tập thể, khu công nghiệp và trường học phục hồi chậm, làm mất cân đối nghiêm trọng cán cân cung, cầu. Thị trường xuất hiện tình trạng giá thu mua tại trang trại giảm sâu, nhưng giá bán lẻ sản phẩm thịt, trứng tại các chợ truyền thống và siêu thị vẫn giữ ở mức cao. Điều này vô hình chung kìm hãm nhu cầu kích cầu tiêu dùng từ người dân.

Ba là, áp lực chi phí đầu vào bào mòn biên lợi nhuận. Mặc dù giá một số nguyên liệu ngũ cốc nhập khẩu như ngô, đậu tương thế giới có dấu hiệu hạ nhiệt, nhưng chi phí thức ăn chăn nuôi (chiếm 65 - 70% giá thành) tại Việt Nam vẫn giữ ở mức cao do gánh nặng chi phí logistics và biến động tỷ giá, từ đầu năm đến nay giá thức ăn đã được các doanh nghiệp điều chỉnh tăng 5 đợt. Giá xăng dầu có giai đoạn điều chỉnh giảm, nhưng giá thức ăn chăn nuôi trong nước và các chi phí khác vẫn tăng, trực tiếp đẩy chi phí chăn nuôi tăng thêm từ 10 - 15%.

Bốn là, cạnh tranh khốc liệt từ thịt nhập khẩu giá rẻ. Việt Nam tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn sản phẩm gia cầm từ Mỹ, Brazil, Ba Lan và EU. Riêng 8 tháng đầu năm 2026, lượng gà nhập khẩu ước tính lên khoảng 185.000 - 190.000 tấn. Các loại phụ phẩm gia cầm đông lạnh nhập khẩu (đùi, cánh gà) có giá thành siêu rẻ tràn vào thị trường, chiếm thị phần lớn tại các bếp ăn công nghiệp và chuỗi thức ăn nhanh, bóp nghẹt không gian tiêu thụ của gà thịt lông trắng nuôi trong nước.

Khủng hoảng thị trường gia cầm trong 8 tháng qua là bài học đắt giá về việc thiếu quy hoạch tổng thể và sự lỏng lẻo trong liên kết chuỗi. Những hộ nuôi nhỏ lẻ, manh mún, không chủ động được đầu ra chính là đối tượng chịu tổn thương nặng nề nhất và đang có xu hướng phải treo chuồng, bỏ nghề.

Liên kết chuỗi để giảm rủi ro

- Liên kết giữa hộ chăn nuôi và doanh nghiệp theo chuỗi từ con giống, thức ăn, chăn nuôi đến giết mổ, chế biến và tiêu thụ được xem là hướng đi quan trọng. Ông đánh giá thế nào về thực trạng liên kết hiện nay?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Xu hướng liên kết chuỗi khép kín từ thức ăn (Feed) - con giống/trang trại (Farm) - chế biến/phân phối (Food) ngày càng khẳng định tính ưu việt. Nhiều tập đoàn lớn như C.P. Việt Nam, Japfa Comfeed, De Heus… đã đầu tư toàn bộ hệ thống khép kín này để tối ưu hóa giá thành và kiểm soát chất lượng. Mô hình liên kết doanh nghiệp và nông hộ có xu hướng ngày càng mở rộng. Theo đó, các doanh nghiệp đầu chuỗi thực hiện ký kết hợp đồng bao tiêu, cung cấp đồng bộ con giống chuẩn, thức ăn chăn nuôi và thuốc thú y cho nông dân. Mô hình này giúp các trang trại gia cầm quy mô lớn tăng năng suất đáng kể, nâng cao tiêu chuẩn an toàn sinh học, an toàn vệ sinh thực phẩm và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch từ trang trại đến bàn ăn.

Mặc dù đạt được nhiều thành tựu, chuỗi liên kết gia cầm hiện nay còn nhiều bất cập nội tại. Một là, chuỗi giá trị liên kết thực tế vẫn còn mỏng. Số lượng chuỗi do các doanh nghiệp lớn đầu tư đồng bộ từ đầu vào đến đầu ra chưa đủ bao phủ thị trường, dẫn đến việc thiếu kết nối chặt chẽ giữa các khâu (giống, chăn nuôi, giết mổ, tiêu thụ). Người chăn nuôi tự do hoặc liên kết lỏng lẻo vẫn dễ bị ép giá bởi các tầng trung gian.

Hai là, áp lực bão hòa cung và làn sóng FDI mở rộng đàn. Trong khi thị trường nội địa có dấu hiệu dư cung và giá bán sản phẩm gia cầm thương phẩm duy trì ở mức khá bấp bênh, khối doanh nghiệp FDI vẫn tiếp tục có kế hoạch tăng đàn và mở rộng sản lượng. Điều này tạo áp lực cạnh tranh cực kỳ lớn đối với các doanh nghiệp nội và chuỗi liên kết nhỏ.

Ba là, phụ thuộc nguyên liệu đầu vào. Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu ngũ cốc nhập khẩu, việc giá thức ăn chăn nuôi trải qua nhiều đợt tăng liên tiếp làm bào mòn biên lợi nhuận của cả chuỗi. Bốn là, hạ tầng logistics và giết mổ chưa đồng bộ. Tỷ lệ giết mổ tập trung công nghiệp đối với gia cầm hiện vẫn còn khoảng cách xa so với mục tiêu chiến lược năm 2030 (đạt 50%). Hệ thống kho lạnh, bảo quản và logistics phục vụ chuỗi liên kết tiêu thụ vẫn chưa đồng bộ, khiến sản phẩm khó thâm nhập sâu vào các kênh phân phối hiện đại như siêu thị hoặc phục vụ xuất khẩu số lượng lớn.

- Theo ông, doanh nghiệp cần xây dựng mô hình liên kết với các hộ chăn nuôi như thế nào để vừa bảo đảm đầu ra ổn định cho người chăn nuôi, vừa kiểm soát chất lượng và chủ động nguồn nguyên liệu?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Để không bị tụt lại phía sau, các chủ thể chính trong ngành gia cầm cần chủ động triển khai các giải pháp. Theo đó, đối với các doanh nghiệp lớn và chuỗi liên kết, phải chuẩn bị tâm thế và nguồn lực cho cuộc cách mạng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp cần chủ động tự chủ nguồn giống chất lượng cao, dinh dưỡng chuẩn, phòng bệnh hiệu quả và đầu tư sâu vào hệ thống nhà máy giết mổ, chế biến hiện đại. Đồng thời, phải thiết lập các tiêu chuẩn quản trị rủi ro nghiêm ngặt và minh bạch hóa dữ liệu chuỗi cung ứng qua Blockchain để bảo vệ thương hiệu.

TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam.

TS. Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Gia cầm Việt Nam.

Đối với các hộ chăn nuôi phải dứt khoát từ bỏ tư duy chăn nuôi tự phát, "được chăng hay chớ". Người nông dân cần chuẩn bị kiến thức kỹ thuật, chuyển sang chăn nuôi chuyên nghiệp bằng mô hình chuồng kín và tham gia vào các hợp tác xã kiểu mới. Con đường sống còn của nông hộ là trở thành một mắt xích vệ tinh trung thành, chia sẻ rủi ro và lợi ích trong chuỗi giá trị khép kín của tập đoàn lớn.

- Thưa ông, đâu là những chiến lược then chốt để ngành gia cầm Việt Nam bứt phá, nâng cao năng lực cạnh tranh trong tương lai?

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Về chiến lược then chốt để ngành gia cầm Việt Nam phát triển bứt phá, nâng cao năng lực cạnh tranh, theo tôi có 3 mũi đột phá.

Một là, tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Trong 5-10 năm tới ngành gia cầm bắt buộc phải thay đổi cấu trúc mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu và tự chủ chuỗi cung ứng. Thời kỳ chạy theo số lượng, tăng đàn cơ học bằng mọi giá đã khép lại. Tái cấu trúc mô hình tăng trưởng lúc này là bài toán chuyển dịch toàn diện sang chiều sâu và tự chủ. Chúng ta cần tập trung tối ưu hóa hiệu suất trên từng đơn vị vật nuôi thông qua công nghệ di truyền và dinh dưỡng chính xác, phòng bệnh hiệu quả. Bên cạnh đó, việc tái cấu trúc phải gắn liền với tối ưu hóa chuỗi giá trị. Giảm bớt các khâu trung gian thương lái, chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình chỉ bán thịt tươi, sang gia tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, giá trị gia tăng cao.

Hai là, đẩy mạnh quy hoạch vùng nuôi an toàn dịch bệnh chuẩn quốc tế. Muốn hướng ra biển lớn, chúng ta phải có các vùng chăn nuôi tập trung được chứng nhận an toàn dịch bệnh theo tiêu chuẩn của Tổ chức Thú y thế giới (WOAH). Đây là tấm "hộ chiếu" duy nhất để vượt qua rào cản kỹ thuật của các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc hay EU. Ba là, chiến lược phát triển song hành hai dòng sản phẩm chủ lực và đẩy mạnh xuất khẩu.

Ngành gia cầm cần chiến lược định vị "lưỡng cực" sản phẩm gia cầm chủ lực. Theo đó, một mặt tiếp tục giữ vững thị trường nội địa bằng các dòng gà màu (gà bản địa, gà thả vườn chất lượng cao), mặt khác phải dồn lực bứt phá xuất khẩu bằng dòng gà trắng công nghiệp được chế biến sâu. Nhà nước và Hiệp hội phải đóng vai trò chủ đạo trong việc khơi thông các thỏa thuận thú y và thương mại quốc tế để mở đường cho doanh nghiệp.

- Xin cảm ơn ông!

Bài toán của ngành gia cầm không chỉ nằm ở việc xử lý tình trạng dư cung trước mắt, mà còn là tổ chức lại sản xuất, củng cố liên kết và nâng giá trị sản phẩm để tăng sức cạnh tranh trong dài hạn.

Nguyễn Hạnh (thực hiện)
Thích