• :
  • :

Chuyển đổi số giúp ngành dừa tỉnh phát triển bền vững

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Là địa phương dẫn đầu cả nước về diện tích trồng dừa, tỉnh đang đứng trước cơ hội lớn để đưa ngành hàng chủ lực này phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng nhanh về quy mô vùng nguyên liệu cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới phương thức quản lý. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số (CĐS) được xem là giải pháp mang tính nền tảng, tạo động lực xây dựng chuỗi giá trị ngành dừa minh bạch, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao.

 

Sơ chế mụn dừa tại Công ty CP Trà Bắc (phường Long Đức).
Sơ chế mụn dừa tại Công ty CP Trà Bắc (phường Long Đức).

 

Tỉnh hiện có khoảng 122,87 ngàn hecta dừa, chiếm khoảng 61% diện tích dừa cả nước, tương đương hơn 22 triệu cây. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu dừa và sản phẩm từ dừa đạt khoảng 500 triệu USD, tiếp tục khẳng định vai trò của ngành hàng chủ lực trong phát triển kinh tế nông nghiệp địa phương.

Theo ông Hồng Quốc Cường- Giám đốc kỹ thuật Công ty CP RYNAN Technologies Vietnam (đơn vị xây dựng giải pháp CĐS nền tảng quản lý dữ liệu tập trung vùng nguyên liệu dừa hữu cơ tỉnh): Quy mô sản xuất ngày càng mở rộng cũng đồng nghĩa với việc công tác quản lý vùng nguyên liệu dừa trở nên phức tạp hơn. Hiện nay, dữ liệu vùng trồng dừa hữu cơ còn phân tán ở nhiều doanh nghiệp (DN), đơn vị chứng nhận và cơ quan quản lý.

Tỉnh chưa có một bản đồ số dùng chung phục vụ quản lý thống nhất vùng nguyên liệu; việc cấp và quản lý mã số vùng trồng, chứng nhận hữu cơ chưa được tập trung, dẫn đến nguy cơ chồng lấn vùng nguyên liệu giữa các DN, gây khó khăn trong công tác điều hành cũng như quy hoạch phát triển lâu dài.

Đó cũng là nguyên nhân khiến nhiều câu hỏi quan trọng trong quản lý ngành dừa chưa được giải quyết đầy đủ như: DN nào đang quản lý vùng nguyên liệu nào; vùng trồng nào đã được chứng nhận hữu cơ; khu vực nào còn dư địa phát triển; nơi nào có nguy cơ phát sinh sâu bệnh hoặc cần ưu tiên đầu tư... Chính vì vậy, ông Hồng Quốc Cường cho rằng việc xây dựng một hệ thống số hóa dùng chung cho toàn tỉnh không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu tất yếu.

Đề án hướng đến mục tiêu xây dựng nền tảng quản lý dữ liệu vùng nguyên liệu dừa hữu cơ trên phạm vi toàn tỉnh, có khả năng tích hợp với cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp của địa phương và Trung ương. Số hóa toàn bộ dữ liệu vùng nguyên liệu, định danh vùng sản xuất dừa hữu cơ, xây dựng bản đồ số vùng trồng và cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý, điều hành cũng như phát triển chuỗi giá trị ngành dừa.

Khác với phương thức quản lý truyền thống, nền tảng số sẽ tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn như DN, cơ quan quản lý, đơn vị chứng nhận, khảo sát thực địa, ảnh viễn thám độ phân giải cao và công nghệ GIS. Nhờ đó, toàn bộ thông tin về nông hộ, thửa đất, DN liên kết, vùng chứng nhận hữu cơ, DN thu mua, chế biến, đóng gói... được quản lý tập trung trên cùng một hệ thống.

Cùng với việc số hóa hồ sơ, nền tảng còn hướng đến hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ công tác quản lý, phân tích và dự báo, tạo cơ sở khoa học cho việc quy hoạch vùng nguyên liệu, phát triển sản xuất theo nhu cầu thị trường cũng như nâng cao hiệu quả điều hành của cơ quan quản lý nhà nước.

 

Giám đốc kỹ thuật Công ty CP RYNAN Technologies Vietnam- Hồng Quốc Cường cho biết thêm: CĐS trong ngành dừa không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin mà còn là sự thay đổi toàn diện phương thức quản trị chuỗi giá trị nông sản.

Theo định hướng quốc gia, CĐS nông nghiệp là quá trình ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, viễn thám, blockchain và các nền tảng phần mềm để tối ưu toàn bộ chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ, qua đó tạo ra giá trị mới và phát triển bền vững.

Đối với ngành dừa tỉnh, khi nền tảng dữ liệu tập trung được hình thành, nhiều lợi ích sẽ được phát huy đồng thời. Cơ quan quản lý có thể theo dõi biến động vùng trồng theo thời gian thực, kiểm soát chồng lấn vùng nguyên liệu, quản lý tập trung mã số vùng trồng, chứng nhận hữu cơ và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. DN dễ dàng xác định vùng nguyên liệu phù hợp, mở rộng liên kết với nông dân, hạn chế cạnh tranh không lành mạnh và nâng cao hiệu quả đầu tư.

Đối với người trồng dừa, CĐS mở ra cơ hội tiếp cận phương thức sản xuất hiện đại. Thông qua ứng dụng trên điện thoại thông minh, người dân có thể cập nhật quy trình canh tác, ghi nhật ký điện tử, theo dõi tình trạng sâu bệnh, nhận cảnh báo thời tiết, đồng thời kết nối trực tiếp với DN thu mua và cơ quan chuyên môn. Điều này góp phần giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng suất, bảo đảm chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.

Điểm đáng chú ý của đề án là việc ứng dụng ảnh vệ tinh, công nghệ viễn thám và GIS để xây dựng bản đồ số vùng trồng dừa. Nhờ đó, mọi thông tin về ranh giới vùng trồng, vùng hữu cơ, vùng chứng nhận, vùng nguyên liệu của DN, quy hoạch sử dụng đất... đều được hiển thị trực quan trên bản đồ số.

Khi dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, ngành dừa sẽ có điều kiện phát triển theo hướng minh bạch, truy xuất nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng yêu cầu của thị trường khó tính, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

Tại cuộc họp về báo cáo việc thực hiện giải pháp số hóa vùng nguyên liệu dừa hữu cơ tỉnh vừa được tổ chức, Phó Chủ tịch UBND tỉnh- Châu Văn Hòa khẳng định: Việc CĐS, số hóa vùng trồng dừa hữu cơ của tỉnh là cần thiết. Ông Châu Văn Hòa giao Sở Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối phối hợp các đơn vị và DN đẩy nhanh tiến độ xây dựng đề án số hóa vùng nguyên liệu dừa hữu cơ của tỉnh, giúp ngành dừa tỉnh phát triển bền vững.

 

Theo lộ trình đề xuất từ Công ty CP RYNAN Technologies Vietnam, giai đoạn đầu của dự án sẽ triển khai từ tháng 7-12/2026, tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu, số hóa vùng nguyên liệu và hình thành bản đồ số. Giai đoạn tiếp theo sẽ tiếp tục hoàn thiện, mở rộng và tích hợp với cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, hướng đến xây dựng hệ thống quản lý đồng bộ trên toàn tỉnh.

 

 

 


Tin liên quan