Rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng sầu riêng còn 3 ngày
Đó là một trong những nội dung quan trọng của dự thảo về việc cấp mã số vùng trồng và đóng gói nông sản được Bộ Nông nghiệp và Môi trường xây dựng trình Chính phủ.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ quy định đơn giản hóa thủ tục hành chính về mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói đặt mục tiêu quản lý bằng dữ liệu, trách nhiệm kê khai của tổ chức, cá nhân và cơ chế hậu kiểm. Bỏ cách quản lý "xin - kiểm - cấp" chuyển sang dữ liệu và hậu kiểm.
![]() |
| Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề xuất rút ngắn thời gian cấp mã số vùng trồng sầu riêng còn 3 ngày. ẢNH: DUY TÂN |
Dự thảo được xây dựng như một giải pháp trước mắt để tháo gỡ vướng mắc của Nghị định 38/2026/NĐ-CP trong thời gian chờ sửa đổi toàn diện nghị định này theo trình tự rút gọn. Theo đó, thay vì coi việc cấp mã số vùng trồng là một quy trình tiền kiểm với nhiều thành phần hồ sơ và nhiều khâu xác minh trước khi quyết định cấp hay không cấp, cơ chế mới hướng tới đơn giản hóa tối đa thủ tục, nhưng tăng trách nhiệm quản lý sau khi mã đã được cấp.
Hồ sơ đề nghị cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được rút gọn còn đơn đề nghị theo mẫu. Người dân, hợp tác xã hay doanh nghiệp nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trong thời hạn tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan được UBND cấp tỉnh giao nhiệm vụ phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản nếu từ chối, nêu rõ lý do.
Trường hợp chỉ thay đổi người đại diện, địa giới hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý còn hai ngày làm việc. So với quy trình hiện hành, thay đổi này không chỉ rút ngắn thời gian mà còn giảm đáng kể chi phí tuân thủ của người dân và doanh nghiệp. Dự thảo cũng xác định rõ nguyên tắc không phát sinh thêm thủ tục hành chính mới, đồng thời bảo đảm công khai, minh bạch và phù hợp với thực tế sản xuất.
Trước đây, việc cấp mã số chủ yếu vào các đợt kiểm tra trước khi cấp mã, theo dự thảo mới cơ quan quản lý có thể theo dõi tình trạng hoạt động của vùng trồng, cơ sở đóng gói và truy xuất toàn bộ thông tin trên một nền tảng dữ liệu thống nhất.
Dự thảo vẫn giữ nguyên yêu cầu đối với những vùng trồng phục vụ xuất khẩu. Ngoài việc tuân thủ quy định của Việt Nam, các vùng trồng và cơ sở đóng gói còn phải đáp ứng yêu cầu của từng thị trường nhập khẩu. Khi đăng ký xuất khẩu, tổ chức, cá nhân phải thông báo bằng văn bản về thị trường dự kiến để cơ quan chuyên môn thực hiện hậu kiểm việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu. Thời gian xử lý nội dung này không quá 10 ngày làm việc.
Tuy nhiên, theo các địa phương thực tế cũng có một số khó khăn được đặt ra là mã số vùng trồng được cấp theo vị trí thửa đất và xác định trên cơ sở mã định danh đất đai. Những hộ đã có dữ liệu trên cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia có thể sử dụng ngay để đăng ký cấp mã, trong khi các trường hợp chưa có dữ liệu phải được UBND cấp xã xác nhận và bổ sung thông tin trước khi thực hiện thủ tục. Cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất chưa được chuẩn hóa dữ liệu, phần lớn là đất nông nghiệp. Nếu buộc phải hoàn thiện dữ liệu đất đai (dự kiến trong tháng 10.2026) trước khi cấp mã số vùng trồng, tiến độ giải quyết hồ sơ có nguy cơ bị kéo dài, đi ngược mục tiêu tháo gỡ khó khăn cho sản xuất và xuất khẩu.


