Số hóa quy trình quản lý khuyến công quốc gia
Thông tư số 66 quy định về việc xây dựng, đánh giá, thẩm định, phê duyệt và tổ chức thực hiện đề án, nhiệm vụ, kế hoạch khuyến công quốc gia; tạm ứng, thanh toán, quyết toán kinh phí khuyến công quốc gia.
Theo quy định, việc xây dựng đề án, nhiệm vụ và kế hoạch khuyến công quốc gia phải phù hợp với chủ trương, chính sách, chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các quy hoạch quốc gia, quy hoạch tỉnh. Các nội dung hỗ trợ cần hướng tới đổi mới công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững.
Thông tư khuyến khích xây dựng các đề án gắn với sản phẩm, nhóm sản phẩm và chuỗi ngành hàng có tiềm năng, lợi thế của quốc gia, vùng và địa phương. Qua đó, thúc đẩy liên kết trong sản xuất, kinh doanh, đồng thời tập trung nguồn lực vào những khâu, công đoạn có khả năng tạo giá trị gia tăng, nâng cao hiệu quả và lan tỏa lợi ích đến các cơ sở công nghiệp nông thôn.
![]() |
| Cán bộ khuyến công kiểm tra thiết bị máy móc được hỗ trợ từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia tại Hãng sản xuất nước mắm truyền thống Phú Quốc - Hùng Khoa, tỉnh An Giang. |
Một trong những điểm đáng chú ý là quy định về Hệ thống thông tin quản lý khuyến công, hướng tới đồng bộ hóa và số hóa quy trình quản lý các đề án, nhiệm vụ khuyến công quốc gia.
Hệ thống được sử dụng xuyên suốt từ khâu đề xuất, đánh giá, xét chọn, giao kế hoạch, tổ chức thực hiện đến tạm ứng, thanh toán, tổng hợp dữ liệu và lập báo cáo thống kê phục vụ công tác quản lý nhà nước.
Việc đưa hệ thống thông tin vào quản lý được kỳ vọng góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường khả năng theo dõi tiến độ, kiểm soát nguồn lực và hỗ trợ các cơ quan quản lý trong quá trình đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách khuyến công.
Ưu tiên công nghệ tiên tiến, tự động hóa và chuyển đổi xanh
Đối với các đề án hỗ trợ ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, Thông tư quy định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được hỗ trợ phải là hàng mới 100%, chưa qua sử dụng, có hồ sơ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng và đáp ứng các quy định pháp luật có liên quan.
Máy móc, thiết bị được hỗ trợ phải phục vụ các khâu sản xuất hoặc xử lý ô nhiễm môi trường, hướng đến nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hiệu quả sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu và năng lượng; giảm phát thải, hạn chế ô nhiễm môi trường hoặc tạo ra sản phẩm mới.
Đặc biệt, Thông tư khuyến khích các cơ sở công nghiệp nông thôn lựa chọn máy móc, thiết bị và dây chuyền công nghệ có khả năng tự động hóa, số hóa, kết nối dữ liệu, giám sát quá trình sản xuất hoặc hỗ trợ chuyển đổi xanh, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế của cơ sở.
Bên cạnh hỗ trợ đổi mới máy móc, thiết bị, Thông tư cũng quy định yêu cầu đối với các đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật nhằm phổ biến công nghệ mới, sản xuất sản phẩm mới; mô hình trình diễn để tuyên truyền, nhân rộng các cơ sở công nghiệp nông thôn hoạt động hiệu quả; cũng như mô hình áp dụng sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững.
Các quy định này tạo cơ sở để hoạt động khuyến công tập trung hơn vào nâng cao năng lực sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm và thúc đẩy chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng hiện đại, tiết kiệm tài nguyên và thân thiện với môi trường.
Bên cạnh quy trình xây dựng và triển khai đề án, thông tư cũng làm rõ nguyên tắc hỗ trợ và quản lý kinh phí khuyến công quốc gia.
Thông tư số 66/2026/TT-BCT có hiệu lực thi hành từ ngày 23-11. Với các quy định về số hóa quản lý, ưu tiên công nghệ tiên tiến, thúc đẩy sản xuất xanh và tăng cường kiểm soát kinh phí, Thông tư được kỳ vọng tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến công quốc gia, hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển theo hướng bền vững.



