Từ nguồn lực sẵn có đến sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu
Chúng tôi đến thôn A Đăng, thuộc xã Tà Rụt (tỉnh Quảng Trị) vào một ngày trung tuần tháng 9 khi mùa mưa bắt đầu. Theo chị Hồ Thị Hoa, 36 tuổi, Trưởng thôn A Đăng, thôn có 453 hộ dân với 1.882 nhân khẩu, trong đó có khoảng 130 hộ nghèo. Trước đây, chị em phụ nữ trong thôn thường làm rẫy, trồng chuối, trồng sắn, nhưng do diện tích nhỏ, thời tiết khắc nghiệt, nắng nóng, mưa nhiều nên trồng cây không mang lại hiệu quả kinh tế cao. Từ khi tham gia dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt”, chị em được hỗ trợ con giống, hỗ trợ làm chuồng trại và tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi tuần hoàn thích ứng biến đổi khí hậu. Nhờ đó, đời sống ngày một khấm khá hơn.
![]() |
| Chị Hồ Thị Hoa, 36 tuổi, Trưởng thôn A Đăng, xã Tà Rụt. |
Theo chân Trưởng thôn A Đăng, chúng tôi ghé thăm khu chăn nuôi của gia đình chị Hồ Thị Rổ, 39 tuổi, một trong những thành viên tham gia dự án ngay từ đầu. Khu chăn nuôi được dựng lên ở một khu đất cách xa nơi ở của gia đình. Chị Rổ chia sẻ:, trước đây, thu nhập chính của gia đình chủ yếu từ làm rẫy, bán tạp hóa và thu mua nông sản, mỗi tháng thu nhập khoảng 5 triệu đồng, chỉ vừa đủ ăn. Tuy nhiên, thời tiết ngày càng khắc nghiệt, nguồn thu từ nông sản bấp bênh, có tháng không đủ ăn. Trong khi đó, con trai lớn của chị đang học đại học tại Huế. Dù cháu thuộc đối tượng được miễn học phí, nhưng hằng tháng gia đình vẫn gửi ít nhất 2 triệu đồng để lo tiền ăn, tiền trọ và sinh hoạt cho con.
Đó là những động lực ban đầu đưa chị Rổ tìm đến một hướng sinh kế mới. Tháng 7-2025, chị Rổ tham gia dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt” và được nhận 2 con lợn nái và 1 con lợn đực để gây đàn. Sau hơn một năm, đàn lợn của chị đã tăng lên 14 con. Chị đã cho xuất chuồng được 2 con đầu tiên, thu về hơn 18 triệu đồng. Chị dành một phần khoản thu này cho việc học của các con, phần còn lại mua thêm lợn rừng lai để tái đàn. Hiện đàn lợn của chị Rổ có 18 con, trong đó lứa lợn nái thứ hai sắp đẻ.
![]() |
| Chị Hồ Thị Rổ chăm sóc hai con lợn nái đen được dự án hỗ trợ. |
![]() |
| Đàn lợn đẹp như tranh của gia đình chị Hồ Thị Rổ. |
Theo chị Rổ, nuôi lợn đen bản địa tuy mất nhiều thời gian hơn, nhưng lợn ít bị bệnh do thích nghi được với điều kiện thời tiết khắc nghiệt ở Tà Rụt. Lợn đen bản địa thịt ngon, chắc và sạch, giá bán khoảng 150.000 đồng/kg, cao gần gấp đôi so với lợn nuôi thông thường, mang lại giá trị kinh tế cao.
Điều chị Rổ học được khi tham gia dự án là học cách chăn nuôi, phòng bệnh cho đàn lợn, cách tận dụng nguyên liệu sẵn có ở địa phương để làm thức ăn theo hướng tuần hoàn. Từ thức ăn đến chất thải, mọi thứ trong mô hình đều được tính toán để tận dụng và quay vòng. “Tôi tận dụng cây chuối rừng, rau lang, sắn, ngô, cám gạo..., đem băm nhỏ rồi ủ với men vi sinh thành cám chua. Trời nắng, thức ăn được ủ trong 2-3 ngày, trời mưa khoảng 4-5 ngày là có thể đem ra dùng. Mỗi lần ủ, tôi có thể dùng cho cả đàn trong khoảng 20 ngày đến một tháng mà không cần đun nấu. Còn chất thải được dẫn vào hố ủ biogas, sau đó tạo thành phân hữu cơ để bón cho cây”, chị Rổ chia sẻ.
![]() |
| Tham gia dự án, chị em biết tận dụng nguyên liệu sẵn có như chuối rừng, rau lang, sắn, ngô..., ủ men vi sinh để làm cám chua nuôi lợn. |
Cũng như gia đình chị Rổ, gia đình chị Hồ Thị Hiền ở thôn Ta Xía, xã Tân Lập cũng là một trong những hộ thành công nhờ nuôi lợn đen bản địa. Chị Hiền cho biết, chị được dự án hỗ trợ một con lợn nái và làm chuồng. Sau một năm, chị đã có đàn lợn 9 con. Chị đã bán một con khoảng 40kg, được 3 triệu đồng, lấy tiền mua sách vở cho con vào năm học mới. Số lợn còn lại, chị Hiền dự định “vỗ béo” trước khi xuất chuồng, lấy tiền để tiếp tục tái đàn.
Điều mà chị Hiền tâm đắc khi tham gia dự án chính là tham gia các buổi tập huấn về cách chọn giống, làm chuồng, vệ sinh chuồng trại, ủ thức ăn bằng các nguyên liệu sẵn có ở địa phương, qua đó góp phần bảo vệ môi trường.
Tăng thu nhập hộ gia đình, nâng cao vai trò của phụ nữ
Theo Phó chủ tịch UBND xã Tà Rụt Hồ Văn Nhiếp, dự án “Nhóm chăm sóc lợn nái đen bản địa tuần hoàn xã Tà Rụt” nằm trong khuôn khổ dự án “Tiến về phía trước” được tài trợ bởi Chương trình Hỗ trợ Phát triển Quốc tế của Chính phủ Ireland thông qua Đại sứ quán Ireland tại Hà Nội và được triển khai bởi Plan International Việt Nam, CARE International tại Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Sáng kiến Phát triển Cộng đồng (RIC) giai đoạn 2022-2028. Dự án được triển khai từ tháng 7-2025 với tổng số vốn hỗ trợ hơn 250 triệu đồng.
Sau hơn một năm triển khai dự án tại xã Tà Rụt, đã có 26 con lợn được xuất bán với tổng doanh thu 105 triệu đồng và còn đang nuôi 50 con. Mô hình bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực, tạo công ăn việc làm, thêm nguồn thu nhập cho các hộ thành viên. Một số hộ đã chủ động tái đầu tư từ nguồn thu sau mỗi lứa nuôi, góp phần duy trì và phát triển mô hình theo hướng bền vững. “Dự án đã tạo thêm nguồn phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao nhận thức phòng chống biến đổi khí hậu. Trong tương lai, chúng tôi mong rằng dự án được nhân rộng ở các thôn bản còn lại”, ông Nhiếp bày tỏ.
![]() |
| Ông Lê Văn Phong, cán bộ phụ trách Dự án “Tiến về phía trước” của Plan International Việt Nam tại Quảng Trị, trao đổi với các thành viên trong nhóm nuôi lợn nái đen bản địa ở xã Tân Lập. |
Ông Lê Văn Phong, cán bộ phụ trách Dự án “Tiến về phía trước” của Plan International Việt Nam tại Quảng Trị, chia sẻ: “Tân Lập là xã vùng núi có tỷ lệ hộ nghèo cao, đời sống của bà con dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, đặc biệt ở đây thời tiết vô cùng khắc nghiệt, nắng gắt, mưa lũ triền miên. Mô hình nuôi lợn nái đen bản địa được triển khai tại địa phương đã giúp bà con tận dụng những nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm phụ thuộc vào đầu vào bên ngoài và tiết kiệm nhiên liệu, các hộ gia đình có thể giảm bớt chi phí chăn nuôi. Cách làm này cũng giúp việc sản xuất phù hợp hơn với điều kiện thời tiết ngày càng thất thường, khi người dân cần những sinh kế có thể duy trì ngay từ những nguồn lực sẵn có tại địa phương”.
Những hoạt động sinh kế như dự án nuôi lợn nái đen bản địa ở xã Tà Rụt và xã Tân Lập không chỉ góp phần thích ứng với biến đổi khí hậu mà còn nâng cao vị thế của phụ nữ trong cộng đồng. Khi phụ nữ được trang bị kiến thức và nguồn lực, họ trở thành những tác nhân mạnh mẽ nhất trong việc thúc đẩy các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu tại địa phương, đảm bảo cộng đồng không chỉ vượt qua được những khó khăn tiềm ẩn mà còn phát triển mạnh mẽ.
Điều đáng quý nhất là người dân đã cảm nhận được những đổi thay cụ thể trong đời sống hằng ngày, đường sá an toàn hơn khi mùa mưa lũ đến, nguồn nước sinh hoạt ổn định hơn, và sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu hiệu quả hơn.







