Nâng nội lực sản xuất, làm chủ công nghệ và chuỗi cung ứng
Tại Hội thảo lấy ý kiến góp ý dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 do Bộ Công Thương tổ chức sáng 9/10, ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho rằng cần chú trọng các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là hướng đi quan trọng để từng bước giảm phụ thuộc vào nguyên phụ liệu nhập khẩu, nâng cao năng lực sản xuất trong nước và tăng khả năng làm chủ các khâu trong chuỗi giá trị.

Ông Phạm Văn Quân phát biểu tại hội thảo
Thực tế, để hàng hóa Việt Nam nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, việc mở rộng quy mô xuất khẩu cần đi cùng quá trình củng cố nền tảng sản xuất. Khi doanh nghiệp trong nước có khả năng cung ứng linh kiện, nguyên phụ liệu và sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, mức độ chủ động của chuỗi sản xuất sẽ được cải thiện, đồng thời tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào các mạng lưới cung ứng quốc tế.
Đại diện Cục Công nghiệp cũng lưu ý, một số giải pháp được đề cập trong dự thảo đã và đang được triển khai. Vì vậy, cần rà soát, kế thừa các chương trình, chính sách hiện có, tăng cường phối hợp giữa các đơn vị và xác định rõ những nội dung cần bổ sung để nâng cao hiệu quả thực hiện.
Trong phát triển chuỗi cung ứng, Cục Công nghiệp đề cập việc phối hợp với Cục Xúc tiến thương mại xây dựng các chuỗi thuộc ngành điện tử và ngành ô tô. Sự phối hợp này hướng tới tăng cường kết nối doanh nghiệp, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ và nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào chuỗi cung ứng.
Cùng với năng lực sản xuất, năng lực công nghệ cũng được xác định là yếu tố cần quan tâm trong quá trình nâng chất lượng tăng trưởng xuất khẩu. Đại diện Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương, đề xuất bổ sung các chính sách, giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng công nghệ thông qua nhập khẩu, qua đó phát triển năng lực sản xuất trong nước, tăng tính tự chủ và nâng cao giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu.
Theo đại diện Trung tâm, việc tiếp nhận công nghệ cần được triển khai theo một quá trình có định hướng, từ lựa chọn, nghiên cứu đến phát triển và ứng dụng công nghệ phù hợp với từng ngành hàng. Năng lực công nghệ và khả năng tự chủ sản xuất của mỗi ngành cần gắn với mục tiêu xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu của các thị trường.
Đề xuất này đặt ra yêu cầu nhìn nhận nhập khẩu không chỉ ở góc độ đáp ứng nhu cầu hàng hóa trong nước, mà còn ở khả năng phục vụ sản xuất, tiếp nhận công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Khi công nghệ được lựa chọn và ứng dụng phù hợp, doanh nghiệp có thêm điều kiện cải tiến quy trình sản xuất, nâng chất lượng sản phẩm và gia tăng giá trị trong từng khâu của chuỗi xuất khẩu.

Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại
Từ góc độ thị trường, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại đề xuất quan tâm hơn đến khu vực ASEAN trong định hướng phát triển xuất nhập khẩu. Với lợi thế về khoảng cách địa lý và kết nối, khu vực này còn tiềm năng thúc đẩy hợp tác thương mại, mở rộng thị trường cho hàng hóa Việt Nam.
Đối với định hướng phát triển ngành hàng, đại diện Cục Phòng vệ thương mại cho rằng cần gắn việc lựa chọn sản phẩm với nhu cầu thị trường, đồng thời chú trọng nâng cao giá trị gia tăng. Bên cạnh những ngành hàng hiện có, cần nghiên cứu khả năng phát triển các lĩnh vực có tiềm năng tạo ra sản phẩm giá trị cao hơn, trong đó có một số ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp nền tảng và hóa chất. Tuy nhiên, việc lựa chọn phải phù hợp với điều kiện, năng lực sản xuất và định hướng phát triển của Việt Nam.
Bám sát biến động thị trường, cụ thể hóa nhiệm vụ thực hiện
Bên cạnh việc củng cố nội lực, các ý kiến góp ý nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng phân tích thị trường và nhận diện sớm những rủi ro đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Đại diện Bộ Ngoại giao cho rằng dự thảo đã đề cập bối cảnh và một số xu hướng lớn, song cần phân tích sâu hơn những diễn biến tác động trực tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Theo đó, cần làm rõ xu hướng vận động của thị trường đối với các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, đồng thời phân tích sự thay đổi của các đối thủ cạnh tranh và sức ép đối với doanh nghiệp trong nước. Với ngành dệt may và những ngành hàng chủ lực khác, việc nhận diện cụ thể biến động thị trường, tương quan cạnh tranh sẽ giúp xác định hướng ứng phó phù hợp hơn.
Các yếu tố địa chính trị, an ninh và biến động tại các khu vực thị trường cũng cần được xem xét trong quá trình xây dựng định hướng xuất nhập khẩu. Đại diện Bộ Ngoại giao lưu ý xu hướng các nước tăng cường kiểm soát hàng hóa trung chuyển, cùng tác động của các biện pháp phòng vệ thương mại và điều tra thương mại đối với hàng hóa Việt Nam. Đây là những vấn đề cần được phân tích kỹ để xây dựng giải pháp chủ động, giảm thiểu rủi ro trong quá trình tiếp cận thị trường.
Cùng quan điểm về yêu cầu chủ động ứng phó, ông Chu Thắng Trung cho rằng cần tăng cường theo dõi chính sách thương mại của các đối tác, nhận diện sớm nguy cơ và nâng cao năng lực ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại. Thực tiễn cho thấy nhiều quốc gia sử dụng những công cụ này để bảo vệ ngành sản xuất trong nước. Vì vậy, năng lực dự báo, theo dõi và xử lý các vụ việc cần được quan tâm trong quá trình triển khai Chiến lược.
Đại diện Bộ Ngoại giao cũng đề nghị gắn định hướng xuất nhập khẩu với đổi mới mô hình tăng trưởng trong nước, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực. Việc nghiên cứu cần đi sâu vào khó khăn, vướng mắc theo từng nhóm hàng và thị trường, thay vì chỉ dừng ở những nhận định chung. Đồng thời, cần quan tâm các chỉ tiêu phản ánh mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, làm cơ sở xây dựng chính sách hỗ trợ phù hợp.
Về lựa chọn ngành hàng ưu tiên, đại diện Bộ Ngoại giao lưu ý cần xuất phát từ lợi thế và năng lực thực tế của Việt Nam. Bên cạnh định hướng phát triển các ngành công nghệ cao cần thời gian để làm chủ, cần chú trọng những nhóm sản phẩm Việt Nam có thế mạnh, có khả năng nâng cao giá trị gia tăng thông qua ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Định hướng phát triển ngành hàng cũng cần gắn với hoạt động xúc tiến thương mại để nhận diện, thúc đẩy các sản phẩm có tiềm năng xuất khẩu.
Ở góc độ tổ chức thực hiện, đại diện Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cơ bản thống nhất với dự thảo Chiến lược, đồng thời đề nghị rà soát các nhiệm vụ, giải pháp theo hướng trọng tâm, khả thi và có thể đánh giá kết quả. Những nhiệm vụ có nội dung tương đồng cần được sắp xếp hợp lý, tránh chồng chéo giữa các chương trình, đề án và hoạt động của các bộ, ngành. Việc lựa chọn nhiệm vụ cần gắn với kết quả đầu ra cụ thể, tập trung nguồn lực vào những nội dung thực sự cần thiết.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng đề nghị bổ sung nhiệm vụ thông tin, tuyên truyền về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa. Theo đó, cần phát huy vai trò của các cơ quan báo chí trong cung cấp thông tin, lan tỏa định hướng phát triển xuất nhập khẩu và giới thiệu những mô hình, cách làm hiệu quả trong sản xuất, kinh doanh, phát triển thị trường. Nhiệm vụ này cần xác định rõ cơ quan chủ trì, phối hợp và nội dung thực hiện, tránh trùng lặp với các chương trình, đề án hiện có.
Phát biểu kết luận hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái nhấn mạnh, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục lắng nghe, lấy ý kiến, hoàn thiện dự thảo Chiến lược để báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định ban hành trong thời gian tới.
Dự thảo chiến lược đề ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa bình quân giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt 15-16%/năm; nhập khẩu tăng bình quân 12-13%/năm. Cán cân thương mại hướng tới thặng dư bền vững, với tỷ trọng xuất siêu trên tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 3-6% trong giai đoạn này. Đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu nằm trong nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất thế giới; tỷ trọng xuất siêu đạt 7-10%.


